“Liên lạc mật thiết”, tranh thủ sự ủng hộ của Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp (1945 - 1946)
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, phải đối phó với “thù trong”, “giặc ngoài” và nền kinh tế kiệt quệ. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định hai nhiệm vụ cấp bách trước mắt là cứu đói ở miền Bắc và kháng chiến ở miền Nam. Ngày 25-11-1945, trong Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, sau khi phân tích những thay đổi căn bản về tình hình quốc tế, trong nước, đánh giá thái độ của từng đế quốc đối với cách mạng Đông Dương, Đảng nhấn mạnh “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”1. Trung ương Đảng xác định kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng. Về ngoại giao, Chỉ thị nêu rõ: “kiên trì chủ trương ngoại giao với các nước theo nguyên tắc “bình đẳng và tương trợ”… thuật ngoại giao là làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”. Trên cơ sở đó, Chỉ thị xác định kẻ thù chính của dân tộc ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược và nhiệm vụ của cách mạng nước ta là phân hóa cao độ kẻ thù, đoàn kết, hợp tác với Đảng Cộng sản Pháp và nhân dân Pháp tiến bộ. Bởi lẽ, “sau cuộc Tổng tuyển cử Đảng Cộng sản Pháp là một đảng mạnh nhất trong Quốc hội, và trong Chính phủ Pháp hiện nay có năm đảng viên Đảng Cộng sản tham gia”. Cho nên phải tập trung ngọn lửa đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược; trong tuyên truyền, phải tách riêng thực dân Pháp xâm lược, chỉ nói đánh thực dân Pháp xâm lược; không công kích nước Pháp, nhân dân Pháp, chỉ công kích thực dân Pháp xâm lược.
Ngày 3-3-1946, trước tình thế đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, để tránh phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc và có điều kiện để củng cố lực lượng, Đảng chủ trương hòa hoãn với thực dân Pháp, hợp tác chặt chẽ với Đảng Cộng sản Pháp, “liên lạc mật thiết ngay với Đảng Cộng sản Pháp để thực hiện sự hành động chung giữa ta và các đồng chí Pháp”. Sau khi Hiệp định Sơ bộ được ký kết, ngày 9-3-1946, trong Chỉ thị “Hòa để tiến”, Đảng chỉ rõ phải: “Ra sức tuyên truyền Tây và gây cơ sở đảng trong đám người Tây ở Đông Dương. Đồng thời mật thiết liên lạc với những phần tử hay đoàn thể cấp tiến Pháp ở Đông Dương và ở Pháp”. Từ ngày 21 đến ngày 23-6-1946, Xứ ủy Trung Kỳ ra Nghị quyết nhận định: “Kết quả cuộc đàm phán Việt - Pháp nhiều hay ít và sau này được đảm bảo hay không còn tùy sức tranh đấu của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, và sức tranh đấu của nhân dân Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp”. Vì vậy, Đảng chủ trương: “hai Đảng Cộng sản Đông Dương và Pháp phải mật thiết liên lạc với nhau đặng dẫn đạo hai dân tộc Việt - Pháp đoàn kết chặt chẽ chống bọn phản động Pháp. Đối với Pháp kiều ở Đông Dương nhất là đối với quân đội Pháp chúng ta phải biết phân biệt bọn phản động (quan cai trị cũ, võ quan cao cấp, tư bản ngân hàng) với những phần tử dân chủ tiến bộ (phần nhiều trong lớp binh sĩ hạ cấp, tiểu chủ tiểu thương, giáo sư, v.v.). Phải gia khẩn tuyên truyền kín đáo trong hàng ngũ người Pháp ở Đông Dương phải hết sức tránh những xung đột đổ máu vô ích, phá tan những sự chia rẽ hai dân tộc Việt - Pháp do bọn khiêu khích, tay sai của phản động Pháp hay phản động Tàu, hay do một số người Việt Nam còn nặng óc “bài Pháp” xui nên”.
Trong bài “Luôn luôn chuẩn bị nhưng tránh khiêu khích”, đồng chí Trường Chinh nêu rõ thực dân Pháp ra sức khiêu khích, chia rẽ tình đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp hòng phá chính sách ngoại giao của Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vì vậy, “Chúng ta phải đòi quân đội Pháp đình chỉ ngay những hành động khủng bố và khiêu khích. Chúng ta tố cáo mưu mô của một số người Pháp phản động đang khuyến khích những hành động khủng bố và khiêu khích ấy để chia rẽ hai dân tộc Việt - Pháp, để làm cho nhân dân ta và binh lính Pháp ác cảm lẫn nhau. Vì chúng là kẻ thù của cả hai dân tộc Việt - Pháp, vì chúng áp bức lính Pháp và chực cướp lại nước ta, nên chúng rất sợ hai dân tộc Việt - Pháp thân thiện, rất sợ dân ta và lính Pháp gần gũi... Đó là một cách chúng làm cho lính Pháp tưởng lầm rằng dân ta là kẻ thù để quên rằng chính bọn chúng mới thật là kẻ thù. Đó cũng là một cách bọn phản động Pháp khiêu khích ta để phá tình thân thiện mới nhóm lên giữa nước Việt Nam dân chủ và nước Pháp mới”.
Ngày 11-7-1946, trong buổi nói chuyện với Ủy ban Trung ương Hội Pháp - Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ mong muốn đoàn kết hợp tác thân thiện của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam với Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Pháp: “mong ước mạnh nhất của tôi, sự quan tâm nhất của nước Cộng hòa Việt Nam, nguyện vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam là thực hiện được tình thân thiện Pháp - Việt”. Ngày 17-8-1946, khi trả lời phỏng vấn của báo Franc - Tireur, Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu thị thái độ thân thiện của Việt Nam đối với nước Pháp và nhân dân Pháp và khẳng định: “Cần phải tạo nên bầu không khí thuận lợi cần thiết cho cuộc cộng tác Việt - Pháp... chúng tôi quyết định bảo đảm cho nước Pháp những quyền lợi tinh thần, văn hóa và vật chất, nhưng trái lại nước Pháp phải bảo đảm nền độc lập của chúng tôi”. Ngày 2-9-1946, trong Diễn văn Kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh thiện chí muốn là bạn với nước Pháp, muốn xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Người nêu rõ: “Để cho mọi hy vọng trở thành hiện thực, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có một nguyện vọng cháy bỏng là mong mỏi Hội nghị Phôngtennơblô nhanh chóng đưa đến những kết quả cụ thể... Mong sao tình hữu nghị giữa nước Pháp và nước Việt Nam độc lập và thống nhất trở thành sự thực!”. Sau khi Hội nghị Phôngtenlơblô không đạt được kết quả, ngày 13-9-1946, khi nói chuyện với các nhà báo Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì khẳng định quan điểm thiện chí hòa bình của Việt Nam, nhấn mạnh sự tin tưởng vào “nước Pháp mới”.
Trước tình hình quân Pháp không thực hiện những điều đã ký trong Tạm ước 14-9, nổ súng ở Nam Bộ, gây nên những cuộc xung đột đẫm máu ở Hải Phòng, Lạng Sơn, ngày 23-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi “Gửi đồng bào Việt Nam, người Pháp và người thế giới”, khẳng định: “nhân dân Việt Nam sẵn sàng cộng tác thật thà với nhân dân Pháp… nhân dân Pháp mong muốn cộng tác thật thà với nhân dân Việt Nam… một số người Pháp không hiểu tâm lý dân Việt Nam, không làm theo ý nguyện dân Pháp, đã gây nên những cuộc xung đột đổ máu giữa hai bên”12. Người kêu gọi “Người Việt và người Pháp có thể và cần phải bắt tay nhau trong một sự nghiệp cộng tác bình đẳng, thật thà, để gây dựng hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc”.
Ngày 7-12-1946, trước tình hình quân Pháp tiếp tục phá hoại Tạm ước 14-9, khiêu khích quân sự, gây đổ máu ở Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi gửi Quốc hội và Chính phủ Pháp” yêu cầu Quốc hội và Chính phủ Pháp “hạ lệnh cho đương cục Pháp khôi phục tình trạng trước ngày 20-11-1946, để cùng Chính phủ Việt Nam thi hành Tạm ước, để xây đắp sự cộng tác Pháp - Việt thân thiện và lâu dài”14. Ngày 13-12-1946, trong tuyên bố với phóng viên báo Paris - Sài Gòn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm thiện chí của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với nước Pháp, nhân dân và quân đội Pháp: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh... Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách. Chúng tôi tha thiết với nền độc lập, nhưng nước Việt Nam độc lập ở khối Liên hiệp Pháp... Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm... dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng chịu đựng tất cả, chứ không chịu mất tự do”.
Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam, đặc biệt người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn cố gắng, nỗ lực tìm mọi giải pháp, mọi phương cách, mọi sự nhẫn nhịn để không xảy ra chiến tranh; sẵn sàng tham gia khối Liên hiệp Pháp, sẵn sàng chịu đựng khi bị gây hấn khắp nơi, nhưng thực dân Pháp đã bỏ qua tất cả, vẫn nổ súng xâm lược Việt Nam. Trước những nỗ lực cứu vãn hòa bình không được nữa, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, khẳng định: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”.
Như vậy, từ tháng 9-1945 đến tháng 12-1946, trong bối cảnh đất nước gặp muôn vàn khó khăn, đặc biệt là âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Chính phủ Việt Nam với quan điểm hòa bình, hữu nghị và hợp tác, nỗ lực tìm mọi giải pháp giải quyết hòa bình ở Việt Nam, bằng mọi cách ngăn chặn chiến tranh. Với những ứng xử ngoại giao khôn khéo, linh hoạt trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nỗ lực cho hòa bình, hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam và Pháp.



