LIỆT SĨ, ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN CAO VĂN NGỌC (1897- 1961)

MỘT TRONG NHỮNG BIỂU TƯỢNG CỦA CHỦ NGHĨA ANH HÙNG CÁCH MẠNG TRONG
CUỘC ĐẤU TRANH CỦA TÙ CHÍNH TRỊ CÔN ĐẢO TRONG THỜI KỲ CHỐNG MỸ
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Cao Văn Ngọc sinh ngày 16-6-1897 tại làng An
Ngãi, quận Long Điền, (nay là xã An Ngãi, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Ông từng
làm hương quản tại làng; từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông giác ngộ cách mạng, tham gia
kháng chiến.
Ngày 28-9-1956, địch bắt ông với tang chứng là 3 xấp tài liệu tuyên truyền cho Hiệp định
Giơnevơ. Địch giam giữ ông một năm ở Biên Hòa, gia hạn an trí 2 năm, rồi đày ra Côn Đảo. Bị đày
ra Côn Đảo từ chuyến tàu đầu tiên, thời chống Mỹ, ông đứng ở vị trí hàng đầu trong cuộc đấu tranh
chống tố cộng, chống li khai Đảng cộng sản, bảo vệ khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Ông từng
nổi danh là “Ông già Bà Rịa” trong cuộc đấu tranh chống li khai cộng sản ở Trại I Côn Đảo.
Vào những lúc thử thách quyết liệt trước lưỡi lê, họng súng, đòn roi, cấm cố và đày ải trường
kỳ thì chỉ một số ít người có ý chí phi thường mới đủ sức chịu đựng. Cao Văn Ngọc có mặt trong số
người hiếm có ấy. Ông cùng 58 chiến sĩ kiên cường, không chịu khuất phục bị đưa về Chuồng Cọp
sau chiến dịch chuyển hướng. Thương ông tuổi già sức yếu, có người khuyên ông nên chịu điều
kiện, li khai cho đỡ cực. Ông Cao Văn Ngọc tuyên bố thẳng thắn lập trường: “Tôi già rồi, sướng có,
khổ có, đủ cả rồi, nay chỉ còn thiếu chết cho cách mạng” . Từ ấy không ai dám nói chuyện li khai
trước mặt ông. Họ chỉ còn biết noi gương ông mà chiến đấu.
Mùa đông năm 1960, địch bỏ đói triền miên; ngày địch lôi những người tù ở Chuồng Cọp ra
đánh, đêm xối nước lạnh từ nóc Chuồng Cọp xuống đầu. Phạm Sau, Trưởng Trung tâm cải huấn I
dụ dỗ, thuyết phục ông Cao Văn Ngọc: “Ông đâu phải đảng viên mà chống li khai, ông duyên nợ gì
với Hồ Chí Minh mà theo, đến nỗi phải ở tù, chờ chết” . Ông đanh thép trả lời:“Cụ Hồ giải phóng
cho dân tộc khỏi ách nô lệ, tôi mắc nợ khoản đó, tôi phải trả suốt đời” . Phạm Sau kiêng nể, gọi ông
là Ông già Chuồng Cọp.
Đầu năm 1961, chỉ còn lại 18 người chống li khai ở Chuồng Cọp. Tỉnh trưởng Lê Văn Thể
đã kí lệnh thanh toán 18 người chống li khai ở chuồng Cọp. Theo lệnh này, địch dùng đủ mọi lí lẽ
đường mật dụ dỗ, cùng với răn đe: Chính phủ quốc gia đã cần lao, nhân vị, bác ái tới hết cỡ rồi. Đây
là lần cuối cùng, ai hối cải sẽ được đối xử bằng “bàn tay nhung”, ai ngoan cố sẽ bị đối xử bằng “bàn
tay sắt”, nghĩa là chúng sẽ tiêu diệt hết. Sau 2 tuần dụ dỗ, 17 người kiên quyết không khuất phục bị
địch buộc phải viết tờ cam kết hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc không li khai cộng sản. Ông
Ngọc cầm bút viết ngay: “Tôi tên Cao Văn Ngọc, 64 tuổi, vì già và dốt, học tập không được nên
không li khai. Và xin ở đây đến ngày chết thôi” . Ông Cao Văn Ngọc hy sinh đêm 27-3-1961, trong
một trận khủng bố đẫm máu tại chuồng Cọp.
Noi gương ông, các anh Nguyễn Đức Thuận, Phan Trọng Bình, Phạm Quốc Sắc, Nguyễn
Minh và Lê Văn Một đã duy trì cuộc chiến đấu chống li khai cho đến ngày toàn thắng. Năm anh đã
được tù chính trị Côn Đảo tôn vinh là “Năm Anh-Năm Ngôi sao sáng”. Riêng ông Cao Văn Ngọc
và đồng chí Lưu Chí Hiếu, người hi sinh cuối cùng trong cuộc đấu tranh chống li khai được tù chính
trị Côn Đảo xếp vào hàng “Những ngôi sao sáng nhất”. Tấm gương chiến đấu của ông được toàn thể
tù chính trị ở các trại học tập, noi theo, vươn lên đấu tranh cho đến ngày toàn thắng. Giáo sư sử học
Trần Văn Giàu đã nhận xét về ông Cao Văn Ngọc, Lưu Chí Hiếu, về năm anh và những người đồng
đội trong tập thể chống li khai ở Côn Đảo rằng: “Đó là những người anh hùng thật sự, hàng trăm lần
anh hùng” .
Năm 1998, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương đã ký
Quyết định số 423 KT/CTN truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho ông
Cao Văn Ngọc.
Cuộc đời và sự hy sinh của Anh hùng Cao Văn Ngọc là minh chứng hùng hồn cho câu nói
"Tuổi cao chí càng cao". Câu chuyện của ông truyền đi thông điệp mạnh mẽ đến thế hệ đoàn viên,
thanh niên trường THPT Long Hải – Phước Tỉnh ngày nay về lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc,
tinh thần kiên định bảo vệ đồng chí, đồng đội. Là những người trẻ được sống và học tập ngay trên
mảnh đất mà ông từng bảo vệ, chúng ta càng phải có trách nhiệm gìn giữ hòa bình, ra sức học tập,
cống hiến để làm rạng danh quê hương xứ sở.




