liệt sĩ Bùi Thanh Tuân
Cùng ở huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, trong năm 1976, có 2 người lính nhập ngũ là liệt sĩ Đinh Duy Tuân và liệt sĩ Bùi Thanh Tuân. Cả 2 liệt sĩ có cùng tên Tuân (khác họ và tên đệm), cùng ở huyện Gia Viễn và hi sinh trong cùng năm 1977 (khác ngày, khác tháng).
Điều trớ trêu thay là trên bia mộ ghi họ và tên liệt sĩ Đinh Duy Tuân, quê ở Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, nhưng ngày hi sinh trên bia mộ thì lại ghi đúng thành ngày hi sinh của liệt sĩ Bùi Thanh Tuân – ngày 13/7/1977 (trong khi ngày hi sinh của liệt sĩ Đinh Duy Tuân là ngày 25/12/1977). Vì vậy, khi gia đình liệt sĩ Bùi Thanh Tuân đi tìm và cũng gặp ngôi mộ này (có sự hỗ trợ của phương pháp tâm linh), thì họ cũng có niềm tin rằng, tuy họ và tên đệm trên tấm bia mộ kia là chưa đúng, nhưng chắc chắn đây là ngôi mộ liệt sĩ của gia đình mình!
Ông Bùi Văn Luân, em trai của liệt sĩ Bùi Thanh Tuân chia sẻ với tôi rằng, khi ông và gia đình đi tìm, ông có mở sổ ghi chép ở nghĩa trang Dốc Bà Đắc, thì có thấy trong quá trình sao chép từ trang cũ sang trang mới, thông tin của anh trai ông có bị sai.
Cụ thể, trang gốc ghi là liệt sĩ Bùi Thanh Tuân cùng các thông tin bố, mẹ và vợ (liệt sĩ Bùi Thanh Tuân lấy vợ được 3 tháng thì lên đường nhập ngũ - PV). Tuy nhiên, theo ông Luân, khi chép sang đến trang bên cạnh thì thông tin thành liệt sĩ Đinh Duy Tuân cũng cùng thông tin bố, mẹ và vợ (trong khi liệt sĩ Đinh Duy Tuân chưa có vợ - PV). Vì vậy, ông Luân và gia đình càng thêm chắc chắn, ngôi mộ trên chính là của anh trai mình (Phóng viên Báo Bảo vệ pháp luật sẽ kiểm chứng thông tin ghi trong cuốn sổ ở nghĩa trang Dốc Bà Đắc như lời ông Luân chia sẻ).
Để đưa được hài cốt tại ngôi mộ liệt sĩ này về quê, gia đình mẹ Hà Thị Xuân, mẹ liệt sĩ Bùi Thanh Tuân đã phải làm giấy tờ theo các thủ tục, quy định để thay đổi thông tin trên bia mộ dưới sự hỗ trợ, hướng dẫn của Sư đoàn BB330, Quân khu 9 (đơn vị mà liệt sĩ Bùi Thanh Tuân đã nhập ngũ và tham gia chiến đấu). Sau quá trình hoàn tất thủ tục, gia đình mẹ Hà Thị Xuân đã được cất bốc và đưa hài cốt ngôi mộ trên về quê án táng tại nghĩa trang của dòng họ.
Mọi chuyện tưởng như đã êm đẹp, mẹ Hà Thị Xuân cùng gia đình ngỡ như ước nguyện cả cuộc đời của họ là đưa được người con liệt sĩ Bùi Thanh Tuân của mình về quê cha đất tổ thì một ngày gần đây, gia đình mẹ Lưu Thị Hinh, mẹ của liệt sĩ Đinh Duy Tuân đã tìm đến nhà và chia sẻ câu chuyện mà họ cho rằng, ngôi mộ liệt sĩ kia chính là của liệt sĩ Đinh Duy Tuân. Và cuối cùng, 2 gia đình thống nhất, tiến hành cất bốc ngôi mộ lên để lấy mẫu phẩm đem đi xét nghiệm ADN.
Ngày lành, tháng tốt được chọn, nhằm gần ngày 27/7/2019. Chia sẻ với PV, mẹ Lưu Thị Hinh và mẹ Hà Thị Xuân cho biết, từ nhiều đêm trước, người thân cả 2 gia đình đều không thể ngủ được. Các mẹ nghĩ, con cái mẹ đã hi sinh vì Tổ quốc, đó là nỗi mất mát không chỉ riêng gia đình 2 mẹ, mà còn là nỗi đau như của hàng triệu gia đình trên khắp dải đất hình chữ S trong hành trình bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.
Tuy nhiên, các mẹ không thể ngờ rằng, con họ, dù đã hi sinh hơn 30 năm, giờ mới chớm có tin vui tìm được hài cốt, thì lại chưa chắc chắn có phải là của con mình hay không khi mà họ đang ở cái tuổi “gần đất xa trời”.
Rồi ngày bốc mộ cũng đến dưới sự chứng kiến của đông đảo người thân của 2 gia đình, chính quyền, đoàn thể các cấp. Tuy nhiên, một kịch bản không thể lường trước được khi nhân viên của Viện Pháp y Quốc gia về tận nơi kiểm tra và khẳng định, do xương của bộ hài cốt đã bị phân hủy quá nhiều, nên không thể tiến hành làm xét nghiệm ADN. Hai bà mẹ nghe tin ấy xong thì chỉ còn biết ôm nhau khóc. Bộ hài cốt lại được chôn xuống và xây mới lại ngôi mộ.
Giờ thì không còn biện pháp khoa học nào để xác định chính xác, bộ hài cốt kia là của liệt sĩ Đinh Duy Tuân hay liệt sĩ Bùi Thanh Tuân, thậm chí nhiều khả năng bộ hài cốt cũng không phải con của ai trong số 2 mẹ vì xương cốt không còn toàn vẹn. Nhưng với hai người mẹ nay đã gần bước sang tuổi 90, với 2 gia đình, đó vẫn là ngôi mộ chung, là đứa con chung để cùng nhau nhang khói, bởi với họ bất cứ liệt sĩ nào đã hy sinh vì đất nước, cũng đều đáng được tưởng nhớ và tri ân.



