Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

liệt sĩ Chu Trí Tấn

Cách đây 40 năm, năm 1975, tôi cùng một số giáo viên trường Sĩ quan pháo binh đến xã An Khánh, huyện Hoài Đức thăm đồng chí Chu Trí Xiển, Chủ nhiệm Chính trị nhà trường. Chúng tôi được biết từ trước cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, ông Chu Trí Xiển đã là một cán bộ Việt Minh rồi là bí thư Đảng ủy xã. Ông Chu Trí Xiển giới thiệu với chúng tôi Tiến sĩ Chu Trí Thắng, con trai duy nhất của liệt sĩ Chu Trí Tấn. Ông Chu Trí Tấn đã bị giặc Pháp sát hại khi vừa 26 tuổi đời, khi đang ở cương vị C

Lai Châu02/07/2026Đại tá Đỗ Sâm (xã sìn hồ)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
CHU TRÍ TẤN QUÊ HƯƠNG VÀ GIA ĐÌNH

Chu Trí Tấn sinh năm Ất Sửu (1925) trong một gia đình nhà nho thuộc tầng lớp trung lưu tại xóm Chợ, Ngãi Cầu, tổng Yên Lũng, thuộc phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông, nay thuộc địa phận thôn Ngãi Cầu, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.


Trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, địa bàn phía nam huyện Hoài Đức thuộc vùng vành đai phía tây của Hà Nội, tiếp giáp với đường quốc lộ 6 và đường 11A nên có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong ý đồ phòng thủ từ xa của thực dân Pháp.


Từ thị xã Hà Đông ngày đó, giặc Pháp và tay sai mở tuyến tiếp vận theo đường tỉnh lộ 72 về đê Thanh Quang để thành lập tuyến phòng thủ sông Đáy (còn gọi là Tuyến phòng thủ III) bảo vệ vùng cửa ngõ phía tây Hà Nội.


Theo tuyến đường này, trong suốt 9 năm kháng chiến chông Pháp, địch đã mở nhiều cuộc càn quét nhằm tìm diệt cán bộ và du kích Việt Minh. Chúng thiết lập một hệ thống đồn bốt liên hoàn dọc tuyến đường này, dựng lên chính quyền tề ngụy tay sai cùng với các toán lính ác ôn gầy ra nhiều tội ác với nhân dân và cách mạng.


An Khánh ngày đó có tên gọi là tổng Yên Lũng thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Sau đó, tổng Yên Lũng được sáp nhập với tổng Thượng Ốc thành một xã lớn đặt tên là xã An Thượng, với tên gọi lịch sử là Liên xã An Khánh - An Thượng, gồm tổng cộng 10 làng.


Cụ thân sinh ra ông là cụ Chu Trí Dần, một nhà nho hay chữ có gian nhà nằm sát vệ đường cái nên gia đình cụ thuộc hàng sung túc trong làng, có của ăn của để. Trên mảnh đất tổ tiên để lại, cụ xây được một căn nhà theo kiến trúc của những gia đình nho giáo truyền thống ở vùng quê đồng bằng Bắc Bộ thời đó. Năm 1921, người vợ của cụ Dần qua đời để lại cho cụ một cậu con trai mới 8 tuổi, Chu Trí Nghĩa. Thời gian sau, cụ Dần lấy cụ Nguyễn Thị Lộc, một gia đình nhà nho người ở thôn Phú Vinh và một năm sau cụ Lộc sinh ra Chu Trí Tấn, người con đẻ duy nhất của hai cụ.


Năm 1927, cụ Chu Trí Dần qua đời. Cụ bà Nguyễn Thị Lộc một tay chăm lo cho hai anh em Nghĩa, Tấn, sớm tối cùng nhau học hành nên người để giữ lấy truyền thống nho giáo và nền nếp gia phong của gia đình. Mồ côi cha từ năm hai tuổi, Chu Trí Tấn lớn lên trong sự thiếu thốn tình cảm và sự quan tâm chăm sóc của người cha. Bù lại, anh nghe lời mẹ nên cố học cho thành tài và cũng để nối tiếp truyền thống của tổ tiên dòng họ Chu, những người đã đến khai hoang lập ấp ở nơi này từ thời Hậu Lê. Ngày đó, Ngãi Cầu được đặt tên là Nghĩa Kiều Trang, thôn Bạc thuộc Sơn Tây Trấn.


Để nối nghiệp tổ tiên, mẹ anh để anh ở nhà học chữ Nho rồi sau xin cho anh vào học trường tiểu học đầu tiên của xã An Khánh được lập ra bên cạnh đình Ngãi Cầu.


Trường tiểu học sơ học Pháp - Việt đầu tiên của xã An Khánh được lập ra bên cạnh đình làng Ngãi Cầu, mở ra được vài năm thì cũng đến tuổi ông Tấn đi học. Trước khi vào học lớp tiểu học ở trường làng Ngãi Cầu, mẹ ông gửi ông đi học chữ Nho ở nhà ông giáo Duật hai năm. Là góa phụ, năm đó mẹ ông phải mướn người cắp tráp mang theo một mâm xôi gà, dắt ông lên đình có lời xin phép với làng rồi ông mới được theo học.


Ông thi lấy bằng Sơ học yếu lược ở trường làng rồi học tiếp lên lớp Nhì, rồi lớp Nhất ở trường Phủ Hoài Đức. Năm 15 tuổi, ông lên Hà Nội thi tốt nghiệp, qua được vòng thi vấn đáp với giáo viên người Pháp và lấy được bằng Tiểu học yếu lược Xéc-ti-phi-ca (Certificat). Ngày đó ở thị xã Hà Đông đã có một sô' trường tư thục dạy bổ túc hướng nghiệp do Giáo hội Thiên Chúa giáo xây dựng. Xuất thân nho giáo từ một làng quê thuần nông theo đạo Phật nên ông không lên Hà Đông học mà quyết định theo học lớp sư phạm bổ túc trong trường công ở Đại Mỗ, định rằng sau này sẽ về làng mở lớp làm một ông giáo dạy các lớp sơ học.


Một năm sau, ông khăn gói đến xã Đại Mỗ chuẩn bị học tiếp lớp sư phạm bổ túc. Chuẩn bị ghi danh nhập học thì ông được một bà cô ruột lấy chồng ở làng La Phù giới thiệu về một xưởng dệt lớn nhất nhì làng Vạn Phúc thời đó để trông coi và tập làm kế toán, ghi chép sổ sách thu chi cho dần biết việc. Khi đó, phát xít Nhật đã nhảy vào Đông Dương nên nghề dệt ở làng Vạn Phúc, sau một thời gian bị đình đốn kể từ khi Đại chiến thế giối thứ hai nổ ra đến lúc này đã dần khôi phục lại. Ngày đó, đại bộ phận thợ thủ công làm thuê ở khu vực thị xã Hà Đông đều quê ở Hoài Đức. Làng Vạn Phúc thời kỳ phồn vinh nhất có tới 1.500 khung dệt.


Từ năm 1938, Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập ở Vạn Phúc. Đây cũng là cái nôi của phong trào cách mạng ở phủ Hoài Đức ngày đó. Điển hình là cuộc biểu dương lực lượng của hơn 200 thợ thủ công và quần chúng nhân dân đòi "giảm sưu - hoãn thuế" ngày 7 tháng 2 năm 1937; phá tan âm mưu của tên Hoàng Trọng Phu (tổng đốc Hà Đông) đưa tên Đại sứ đặc nhiệm Xu-tin Gô-đa (Justin Godart), phái viên của Chính phủ mặt trận nhân dân Pháp về thăm làng Vạn Phúc. Cuộc biểu tình tháng 6 năm 1939 tại làng Vạn Phúc có tới 3.000 người tham gia phản đối bọn hào lý định đem bán số đất công của làng. Ngày 12 tháng 7 năm 1939, tên quan Pháp Cút-xô (Cousseau), giám đốc Sở địa chính Bắc Kỳ cùng chính quyền tay sai tỉnh Hà Đông về Vạn Phúc để thu hồi đinh điền (ruộng công cấp cho các xuất đinh) theo cái chính sách gọi là "Quản thủ điền thổ". Chúng gặp cuộc biểu tình gồm hơn 3.000 dân làng Vạn Phúc và rất nhiều thợ dệt thuê từ nơi khác kéo đến nên đành phải chịu thua bỏ về.


Một ngày hè năm 1942, Chu Trí Tấn được nghỉ học về làng vài ngày trong dịp chuẩn bị vào vụ mùa sau ngày giáp hạt. Vừa về đến đầu làng, ông thấy người dân đi làm đồng về lao xao rằng có mấy ông thầy Đội ở tỉnh về mới bắt được vụ in báo lậu ở bên xã An Thọ. Hôm sau đem chuyện kể với một người trong họ là ông Chu Trí Xiển, ông Tấn được ông Xiển giải thích cho hiểu báo Sao Vàng là gì, Mặt trận Việt Minh với chủ trương đánh Pháp đuổi Nhật ra sao...


Được giác ngộ tư tưởng cách mạng, ông như được cởi tấm lòng nung nấu bây lâu nay. Ông cùng ông Xiển liên kết một số anh em có chung bầu nhiệt huyết yêu nước ở Ngãi Cầu thành lập Hội Thanh niên Cứu quốc của xã.

Đây chính là đoàn thể yêu nước đầu tiên của xã Ngãi Cầu trực thuộc Mặt trận Việt Minh vùng La - Mỗ (La Khê, La Cả và Tây Mỗ, Đại Mỗ).


Hai ông trực tiếp nhận sự chỉ đạo của Mặt trận Việt Minh qua đồng chí ứng ở La Nội và đồng chí Đoàn Hưng Nông. Vốn là người cao to, lại biết chút ít võ nghệ và mê cung kiếm từ bé, ông Tấn được giao chỉ đạo anh em tập luyện võ nghệ, bàn bạc những vấn đề sơ khai về quân sự. Đây chính là tiền thân của Đội tự vệ cứu quốc đầu tiên tại Ngãi Cầu dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Mặt trận Việt Minh những ngày tiền khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945. Ông Xiển được giao phụ trách về mảng tư tưởng, dạy bảo anh em biết về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7580



WWW

Liệt sĩ Chu Trí Tấn« Trả lời #2 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2021, 05:41:44 pm »
Ngày 27 tháng 5 năm 1942, được chỉ điểm báo tin, bọn mật thám của Pháp từ Hà Nội đã ập vào phá vỡ cơ sở in báo Sao Vàng của Tỉnh ủy Hà Đông đặt ở xã An Thọ, bắt đồng chí Nguyễn Văn Thêm là Tỉnh ủy viên phụ trách cơ sở in báo1 (Tư liệu lịch sử của xã An Khánh (Chu Trí Xiển, Chu Công Thau, Chu Danh Bích).


Có được cơ sở đầu tiên tại Ngãi Cầu, Mặt trận Việt Minh giao cho hai ông làm nhiệm vụ cảnh giới và bố trí địa điểm để một đồng chí ở trên về diễn thuyết cho bà con trong làng. Ngay mùa thu năm đó, buổi sáng chợ phiên Ngãi Cầu bỗng xuất hiện một lá cờ đỏ búa liềm treo trên đầu cổng Tam quan chùa Phổ Quang (chùa Ngãi Cầu). Một người đứng lên diễn thuyết kêu gọi bà con đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật, ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Ở hai bên vệ đường đối diện nhau, ông Xiển và ông Tấn mỗi người đứng một đầu: ông Tấn đứng canh ở cửa Quán Ngãi Cầu, ông Xiển đứng đối diện. Thấy đám đông tụ dưới lá cờ đỏ búa liềm, lính trương tuần liền chạy tới. Hai ông làm động tác ra hiệu cho đồng chí tuyên truyền viên rút lui, luồn qua lùm cây um tùm nơi vườn chùa rồi chạy về phía cánh đồng Thượng Ốc an toàn. Buổi diễn thuyết tuy chỉ chớp nhoáng nhưng đã khiến dân làng khắp hang cùng ngõ hẻm bàn tán xôn xao. Hầu hết người dân khi đó còn chưa hiểu thế nào là Việt Minh. Họ còn phải lo cho cái ăn cái mặc trong thời buổi khó khăn vận hạn của đất nước như thế này, khi mà quê hương đang còn phải chịu ách "một cổ ba tròng": thực dân Pháp, phát xít Nhật và bọn địa chủ phong kiến. Nhưng chừng ấy cũng đủ làm người dân trong xã trông mong vào một cuộc vật đổi sao rời.


Tháng Chạp năm 1942, qua mai mối theo đúng tục lệ làng quê Bắc Bộ thời đó, ông Chu Trí Tấn kết hôn với bà Nguyễn Thị Quyết người thôn Phú Vinh xã An Khánh, cùng thôn với cụ Lộc mẹ ông. Bà Quyết sinh ra trong một gia đình nhà nho truyền thống hiếu học có tiếng trong vùng. Cụ thân sinh ra bà là cụ Nguyễn Ngọc Anh, làm nghề bốc thuốc bắc trị bệnh cứu người. Sau lễ bái tơ hồng thành gia lập thất, hai vợ chồng ông ở cùng với vợ chồng người anh là ông Chu Trí Nghĩa. Cưới xong, ông định ra Giêng sang năm sẽ đem vợ lên Vạn Phúc làm cùng.


Nhưng rồi một biến cố đột ngột đã lái số phận hai vợ chồng ông theo hướng khác. Tại hội làng Đông Lao vào rằm tháng Giêng năm 1943, ông Tấn cùng ông Xiển và một vài anh em khác trong Hội Thanh niên cứu quốc của xã là ông Chu Trí Lưu, ông Chu Trí Phượng, ông Bùi Hữu Hòa, ông Chu Công Lục tìm cách vận động bà con chống sưu cao thuế nặng. Hương lý của làng Đông Lao tố cáo; các ông bị tên tri huyện Dương Kỳ Xương bắt giam tại nhà lao phủ Hoài Đức gần một tháng. Không có chứng cớ rõ ràng, hắn cảnh cáo các ông rồi thả cho về. Sau đó, ông bị chủ xưởng dệt bắt thôi việc, ông có ý định về hẳn nơi chôn rau cắt rốn để làm ăn sinh sống.


Bước vào năm 1943, ruộng đồng bắt đầu bị phát xít Nhật bắt nhổ hoa màu, phá lúa để trồng đay và thầu dầu. Ở nhiều nơi chúng còn lấy thóc dùng thay than để chạy tàu hỏa. Sau cơi trầu ra mắt với làng để xin xuất trai đinh từ năm ngoái, mới cấy được một vụ thì nay xuất ruộng đinh của ông giáp với cánh đồng của tổng Thượng Ốc và cả một phần đất trại cha ông để lại cũng bị quan phủ sức giấy về cho bọn hào lý bắt phải trồng đay. Hàng hóa khan hiếm, sinh hoạt đắt đỏ nên nghề dệt, thêu bị đình đốn. Trước cảnh đời sống người dân muôn vàn khổ cực vì hết gạo, cảnh hà lạm ăn chặn của bọn tổng lý mỗi lúc thu mua thóc tạ càng khiến ông và nhiều trai tráng trong vùng thêm căm thù bọn phát xít, bọn thực dân xâm lược, núp sau chúng là bọn cường hào ác bá. Ông lại lên làng Vạn Phúc để xin đi dệt thuê với tiền công rẻ mạt, chưa đến 20 cent tiền Đông Dương (bằng khoảng hơn 40 đồng tiền Việt Nam khi đó). Là người cao to khỏe mạnh, lại biết chữ Quốc ngữ, ông được nhận ngay vào xưởng dệt. Ông làm thuê ở Vạn Phúc như thế, cốt cũng chỉ mong được tiếp tục giao lưu với các anh em trong Hội thanh niên cứu quốc làng Vạn Phúc, nơi có phong trào yêu nước lớn mạnh bậc nhất của tỉnh Hà Đông, ông cố gắng giữ lửa và tiếp tục tuyên truyền vận động xây dựng Hội Thanh niên cứu quốc của xã. Ngày 1 tháng 5 năm 1943, ông cùng anh em thợ thuyền làm thuê ở Vạn Phúc tham gia lễ kỷ niệm 1 tháng 5 lớn nhất từ trước tới nay tại đây do Mặt trận Việt Minh tổ chức. Buổi lễ diễn ra công khai ngay tại làng Vạn Phúc, tới hơn 3.000 người tham dự, cùng hô vang khẩu hiệu: "Quyết không để một đồng xu, một hạt thóc rơi vào tay giặc".


Ngay sau ngày rằm tháng Tám năm 1943, ông bị một viên Hương chưởng ở làng Vạn Phúc nghi ngờ tham gia phong trào của Việt Minh, chủ xưởng dệt đành phải miễn cưỡng cho ông nghỉ việc về quê để tránh phiền hà rắc rối. Rời xa khung dệt, ông lại về làng. Cuối năm 1943, để có điều kiện cùng anh em yêu nước trong xã Ngãi Cầu tiếp tục hoạt động cách mạng, ông đã đổi khu đất trại rộng 1,3 mẫu mà cha ông để lại để lấy một mảnh đất rộng một sào bên vệ đường 72 cách chùa Phổ Quang chỉ vài chục mét ở xóm Chợ, Ngãi Cầu. Ông dựng năm gian nhà lá làm nơi hai vợ chồng ông sớm tối có nhau, rồi nhờ ông Phó Phùng về dạy nghề cho hai vợ chồng để mở hiệu may. Từ đây, nơi ở của hai vợ chồng ông vừa là cửa hiệu nhận hàng tơ từ Vạn Phúc về để may áo, thêu ren lại vừa là hội quán của các thành viên cốt cán trong Hội Thanh niên cứu quốc của xã. Cuộc sống đơn sơ dưới mái nhà tre vách nứa dựng tạm, với chiếc máy khâu và mấy gánh hàng tơ Vạn Phúc, nhưng đầy ắp niềm vui hân hoan có anh em bè bạn chung bầu nhiệt huyết cách mạng, hàng ngày vẫn cùng ông và ông Xiển, ông Lưu qua lại kín đáo bàn bạc công việc. Được tận mắt chứng kiến đời sống khổ cực của anh em thợ thuyền đi dệt thuê ở làng Vạn Phúc dưới ách bóc lột thậm tệ của bọn thực dân phong kiến, Chu Trí Tấn cùng bao thanh niên yêu nước khác thời đó đã nhận rõ con đường duy nhất để giải phóng dân tộc chỉ có thể là con đường cách mạng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn