Liệt sĩ Chu Trí Tấn - Năm hầm đánh giặc vùng địch hậu
LIệt sĩ Chu Trí Tấn
Tranh thủ thời gian địch tập trung cho chiến dịch Việt Bắc với ý đồ đánh nhanh thắng nhanh, thực hiện chủ trương của Chi bộ đảng, ông Tấn chỉ đạo quân dân xã chủ động đào hầm cá nhân tạo thành một mạng lưới hầm hào bám chặt vào thắt lưng địch, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Hầm được đào tại bất cứ nơi nào có thể đào được: bờ ao, ngoài vườn, bụi tre, trong bếp, ngoài đồng, có hầm còn được đào ngay tại vườn chùa Phổ Quang (chùa Ngãi cầu), dưới điện Tam bảo nhà chùa. Hệ thống 4 căn hầm tại chùa Phổ Quang (1 nằm cạnh bụi tre vườn chùa cạnh Quán Ngãi Cầu và 3 trong gian nhà chính) bắt đầu được đào ngay từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.
Cùng với việc hình thành các nhóm chiến đấu 3 người theo từng thê đội từ khi ông bắt đầu xây dựng trung đội tự vệ Ngãi Cầu, các nhóm 3 người một hầm trú ẩn cũng được ông chỉ đạo sát sao xuống từng cấp dưới, hạn chế đến mức tối đa không để quá 3 người một hầm tránh thương vong lớn. Việc tiết lộ hầm bí mật cho một người thứ tư ở ngoài nhóm biết, ngoại trừ gia đình cơ sở ở nơi đào hầm, là điều cực kỳ tối kỵ. Ngoài ra, ông khuyến khích du kích xã đào các hố cá nhân, một người một hầm, tự cung tự cấp. Những khi nguy cấp mỗi người có thể tản xuống các hố cá nhân dự phòng để bà con cơ sở che giấu.
Đối với hầm cho 3 người, đầu tiên là tranh thủ đào nông thật nhanh đủ chỗ cho một người chui xuống trước để người còn lại ở trên đậy nắp hầm. Người ở dưới dùng cái lẹm (một loại cuốc nhỏ, lưỡi khoằm) khoét rộng thêm ra đủ chỗ cho người nằm ngủ, rồi có thể khoét thêm ngách phụ và đặc biệt quan trọng là lỗ thông hơi. Đào xong, đêm đến mới được lên khỏi hầm đi đổ đất. Đổ đất cũng phải bí mật không để ai biết. Ở Ngãi Cầu, đất được đổ nhiều ở bìa đất ngoài cánh đồng Hũ. Người ở trên đi gom tre vụn, tre ngâm với mấy tấm phên nứa cũ đem xuống hầm để người ở dưới rào vách hầm, thống nhất là không được chặt tre tươi ở bụi tre trong xóm đề phòng địch phát hiện rồi truy bức gia đình cơ sở.
Để có được một căn hầm cho tổ 3 người như vậy là cả một quá trình bí mật, mất rất nhiều công sức. Nếu một khi bị chỉ điểm thì hầm mất, người cũng mất theo luôn. Còn nhớ trận càn ngày 12 tháng 7 năm 1949 vào thôn Gio Quang xã Hữu Hưng1 (Năm 1964 xã Hữu Hưng tách thành hai xã Tây Mỗ và Đại Mỗ như hiện nay, làng Giao Quang thuộc xã Đại Mỗ), được chỉ điểm báo tin, giặc phát hiện được hai căn hầm cỡ lớn nằm bên bờ tây sông Nhuệ. Trong vòng 6 giờ đồng hồ, tổng cộng có 25 cán bộ chiến sĩ xã Hữu Hưng đã hy sinh và 7 người bị giặc bắt ngay tại miệng hai căn hầm này. Một thiệt hại quá lớn cho Hữu Hưng, một ngày tang thương, để lại ngày giỗ chung cho biết bao gia đình!.
Nói về công việc trú ẩn dưới những hầm cá nhân trong vùng địch tạm chiếm ngày đó, mà cán bộ và du kích thời đó hay gọi là "nằm hầm", thật khó có thể diễn tả hết được sự khó khăn gian khổ này. Chỉ có thể nói rằng khi lòng căm thù giặc, tinh thần yêu nước quật cường được khơi dậy thì sức chịu đựng của con người là vô hạn, đến mức có thể làm được những điều ngoài sức tưởng tượng của quân giặc ngoại xâm đến từ bất cứ một đế quốc nào.
Trao đổi với chúng tôi, ông Trương Văn Thư, người du kích từng trực tiếp hoạt động với "ông Chủ tịch Tấn", nhớ lại: "Gặp trận giặc vây, phải nằm hầm với một chị giao thông (làm giao liên), địch ở trên lấy que thuốn tìm hầm, lấy cuốc gõ nhưng may mà không trúng nắp hầm. Hầm đó chưa thuốn được thêm lỗ thông hơi nên bí hơi lắm. Thấy ầm ầm ồ trên, chị này lại lo quá thở gấp, mất hết cả khí thở cho các anh khác. Có khi chưa chết vì giặc mà đã chết vì ngạt thở. Khối anh chết vì nằm hầm ngạt thở đấy...
Mỗi trận bị giặc vây như vậy là lại rút ra kinh nghiệm. Đã đi hoạt động cách mạng là xác định đối mặt với cái chết rồi...".
Nhiều hầm trú ẩn ngoài trời được đào gần bờ ao hoặc sông để khoét thêm một ngạch nhỏ thoát nước phòng khi trời mưa. Xã An Khánh không có sông lớn nào chảy qua nên ngày đó nhiều hầm được đào ở gần bờ ao. Địch biết việc này nên sục sạo quanh bờ ao khá kỹ mỗi trận càn. Hầm xa bờ ao không có ngạch thoát nước, nằm lộ thiên ngoài trời là người du kích còn phải chiến đâu với cả thiên nhiên mỗi khi trời mưa xuống, mưa trút nước ào ào như ai đó lấy chày đập lở cả vách hầm, rồi cả rắn rết theo nước mưa chui vào trong hầm. Nằm hầm gặp trận sốt rét ác tính mà hầm lại ngập nước thì như cơm đang sôi mà đun thêm lửa. Con số thương vong ngoài vòng chiến đấu, trong đó có nằm hầm, là không hề nhỏ. Những gian khổ này, chỉ mong thế hệ mai sau hiểu thấu được một phần, cũng là quý lắm rồi!
Ông Thư cho biết: "Ông Tấn là người tổ chức, trực tiếp chỉ huy du kích và công an xã phục kích quấy rối giặc, đi đánh bốt, gọi là quấy bốt, theo thế trận chiến tranh cài răng lược, đánh bốt Thanh Quang nhiều lần lắm, làm địch mất ăn mất ngủ. Làm công tác bám cơ sở, bám địch trong vùng tạm chiếm là phải cực kỳ gan dạ, nghĩa là anh vừa làm cán bộ, mà lại vừa phải làm lính chiến đấu.
Ngoài ra, ông Tấn cùng lãnh đạo xã còn tổ chức cho lực lượng an ninh và dân quân du kích xã chúng tôi vận chuyển vũ khí trang thiết bị, lương thực từ đường dây trung ương qua địa phương An Khánh về các nơi đã được quy định của huyện.
Tôi ăn cái Tết cuối cùng với ông Tấn là hôm mùng 6 tháng Giêng năm Canh Dần. Khi tôi ở tù về thì dân làng nói ông Tấn đã đi mất rồi...".
Đến giữa tháng 8 năm 1947, địch huy động một lực lượng cơ giới mạnh từ Đại Mỗ qua chùa Tổng tiến thẳng về Ngãi Cầu, hòng giải tỏa bằng được hệ thống hào chống tăng hình chữ chi chằng chịt đã ngăn cản chúng mở thông tuyến đường 72 lên Thanh Quang suốt nửa năm qua. Thiếu thốn về vũ khí đạn dược, du kích Ngãi Cầu cùng bộ đội chỉ tổ chức đánh địch lẻ tẻ, đêm đêm lợi dụng bờ thấp có địa hình địa vật che chắn hai bên đường đánh quấy rối, cản trở chúng san ủi hệ thống công sự. Địch phải rất vất vả mất cả tuần lễ mới cho xe cơ giới vượt qua được hệ thống giao thông hào kéo dài đến gần cây số 8 đầu làng (nơi hiện nay là Phòng khám đa khoa thôn Ngãi Cầu). Sau khi không còn công sự để che chắn nữa, ông Tấn buộc phải cho du kích rút lui và hướng dẫn nhân dân sơ tán.
Sáng ngày 27 tháng 8 năm 1947, sau khi đã san ủi được hệ thống giao thông hào cho xe cơ giới vượt qua, lần đầu tiên địch càn sâu vào làng đã bắn chết 4 người dân vô tội, đều là phụ nữ. Chúng rút đi vào khoảng 8 giờ tối cùng ngày. Cũng trong trận càn đó, địch bắt được một đồng chí ở nơi khác đem lên chùa Tổng tra tấn đến chết, vứt xác ra vệ đường cái rồi rút đi. Đêm hôm đó, ông Tấn cử bà Bùi Thị Kim (thường gọi là Kim Sàng), giả làm người chăn trâu đi về hướng chùa Tổng. Bà đuổi con trâu đi trước, cầm roi đi sau, thẳng về chùa Tổng để xác định chỗ liệt sĩ này nằm. Xong xuôi, bà về báo cho ông Tấn và anh em du kích biết tình hình. Mờ sáng, du kích xã ra lấy thừng buộc vào chân liệt sĩ này kéo thử để đề phòng địch gài mìn, rồi đem thi hài liệt sĩ này về an toàn để mai táng.
Vậy là, giặc Pháp rốt cuộc cũng đã mở thông được một đầu của tuyến đường 72 dẫn về đầu làng Ngãi Cầu. Chúng vẫn chưa cắm chốt trực tiếp ở đây, nhưng đã cắm được chốt ở hai hướng Thanh Quang và Đại Mỗ. Chúng lập Phòng tuyến III, còn gọi là Phòng tuyến sông Đáy, gồm các chốt: Phùng, Thanh Quang, Mai Lĩnh, Thạch Bích, Khúc Thủy, chùa Thông, hình thành tuyến phòng thủ liên hoàn để bảo vệ thị xã Hà Đông và Hà Nội, tạo được thế đứng chân trên địa bàn Hoài Đức. Kể từ cuối năm 1947, các làng của Liên xã An Khánh - An Thượng hoàn toàn nằm trong vùng kiểm soát của giặc Pháp.
Đến thời điểm này, sau hai trận đầu đánh trực diện với giặc, lực lượng lãnh đạo trong Ủy ban kháng chiến hành chính xã Ngãi Cầu còn bám trụ lại tiếp tục công tác chẳng còn được mấy người ngoài ông Xiển, ông Tấn, ông Kế, ông Thân, ông Lục... Vũ khí trang bị cho trung đội tự vệ thì rất thiếu thốn, đạn dược đã cạn. Anh em tự vệ bảo ban nhau lấy chùa Phổ Quang và Quán vừa làm nơi tập kết, luyện tập quân sự, vừa làm nơi ẩn nấp che mắt địch vì nơi đó cây cối um tùm rậm rạp, cơ động ra phía sau lợi dụng địa hình địa vật rất thuận lợi.
Tháng 12 năm 1947, bộ binh cơ giới địch từ Đại Mỗ theo đường 72 lại càn về làng Ngãi Cầu. Lúc này, đoạn đường từ chùa Tổng đến đình làng Ngãi Cầu đã gần như bị chúng giải tỏa, giao thông hào bị lấp, xe cơ giới có thể qua lại, dù tương đối chậm chạp. Qua chùa Phổ Quang, đến cống Tây thì chúng lại gặp phải hào sâu do du kích xã đào, không thể nào qua được. Địch cho xe tăng quay ngược xuống cửa đình rồi vòng thẳng qua cổng Tắt, chạy dọc theo vệ làng đến thẳng cống Lão thì vướng ngòi nước chảy đành phải quay lại không dám qua. Đến chiều hôm đó, địch tức tối dùng xe tăng kéo đổ tam quan chùa Phổ Quang rồi vào làng bắt dân đem gạch vôi của tam quan chùa để lấp đoạn hào sâu tới một mét do dân quân du kích đào ở trên đường 72 chỗ cống Tây để xe địch đi thông lên được đê Thanh Quang. (Cống Tây là một điểm trên đường 72, đoạn qua xóm Chợ về hướng Thanh Quang mà du kích Ngãi Cầu thường xuyên đào hào để chặn xe tăng địch).
Kể từ lúc này, Hoài Đức nói chung và Liên xã An Khánh - An Thượng nói riêng nằm sâu trong vành đai khép kín của giặc. Những vị trí đồn bốt được đặt vào những nơi trọng yếu để đối phó hòng tiêu diệt du kích và cán bộ Việt Minh. Các bốt trọng yếu trong khu vực gồm có: Bốt Phùng, bốt Giá, bốt Thanh Quang, bốt Mai Lĩnh, bốt Ro Lộ. Các bốt này đều có lính Âu - Phi và lính ngụy do một tên quan Pháp chỉ huy, hay gọi là "sếp bốt".
Sau khi thất bại trong chiến dịch Việt Bắc, từ cuối 1947 đầu 1948, giặc Pháp ráo riết bình định, sử dụng những tên tay sai đã từng làm việc cho Pháp cùng những hộ địa chủ đi ngược lại đường lối kháng chiến của dân tộc làm thành phần cốt cán để dựng lên bộ máy tề ngụy tay sai cùng lực lượng hương dũng1 (Hương dũng là lực lượng bán vũ trang tay sai đắc lực cho giặc Pháp) ở các làng phục vụ cho chiến lược "Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Với những đốì tượng này, thì tư tưởng và mục tiêu cho quyền lợi cá nhân của chúng đều đi ngược lại lợi ích chung của cả dân tộc. Chúng gồm đủ mọi thành phần, những tên chỉ điểm, mật vụ, lưu manh, lính đánh thuê... chung quy lại đều là tay sai đắc lực cho thực dân Pháp xâm lược. Chúng điên cuồng chống phá cách mạng, thường xuyên tiếp tay, chỉ điểm cho giặc Pháp bắt giết cán bộ của ta. Đầu năm 1948, ông Tấn nhận được chỉ thị của huyện về thực hiện công tác Tổng phá tề trừ gian, phá thế kìm kẹp của giặc, ông chỉ đạo Ban binh vận của xã, đến 90% là phụ nữ, gồm các bà như bà Nhớn, bà Sái, bà Thuyết... bí mật đến từng thôn xóm, âm thầm vận động bà con thống nhất ngày giờ đồng loạt vùng lên. Một ngày giáp hạt năm 1948, khi địch không ngờ nhất, thì nhân dân cả 10 làng đồng loạt trống mõ nổi dậy tổng phá tề trừ gian, xé giấy lát-xê-pát-xê1 (Tiếng Pháp: Laissez passer). Đây là một loại giấy thông hành do địch cấp cho người dân để ngăn chặn cán bộ ta về bám cơ sở. Ngay trong đợt nổi dậy này, quân và dân trong xã đã xử lý 3 tên lý trưởng ở ba làng: Ngãi Cầu, Vân Lũng và Phú Vinh. Bị giáng một đòn mạnh, bộ máy tề ngụy lung lay. Các nhân viên hội tề không dám ở lại làng mà phải ở tạm Hà Đông hoặc bốt Thanh Quang vì sợ du kích bắt hoặc tiêu diệt, thỉnh thoảng mới về làng xem xét các mặt để báo cáo với quan trên.
Song với sức mạnh hung bạo của quân xâm lược, giặc Pháp cũng đã dần dần củng cố lại bộ máy tề ngụy hòng đối chọi lại thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Giặc tăng cường lính và vũ trang mạnh hơn cho bốt Thanh Quang, xây dựng thành một bốt mạnh, án ngữ tại ngã ba đường, làm điểm tựa kiểm soát cả một vùng rộng lớn. Từ bốt này, chúng thường xuyên mở những cuộc hành quân càn quét vào từng thôn xóm, có mật thám chỉ điểm, lùng bắt cán bộ ta, gây rất nhiều khó khăn cho cách mạng.
Để đáp trả, dưới sự lãnh đạo của chi bộ đảng, ông Tấn đã chỉ đạo du kích xã lập tổ 3 người luân phiên nhau quấy rối địch về ban đêm. Các hình thức quấy phá, làm gián đoạn đường giao thông của địch như tiến hành đào phá mặt đường, đặt mìn muỗi, cắt dây điện thoại của địch trên đường 72 theo phương châm "làm chủ ban đêm, tiến lên làm chủ ban ngày".
Tháng 8 năm 1948, ông Nguyễn Ngọc Tần sau hơn một năm theo Trường Thiếu sinh quân đã được huyện cử về hoạt động ở xã. Được sự hỗ trợ của ông Nguyễn Ngọc Tần, phong trào du kích trong toàn xã lại càng phát triển mạnh. Trở về thôn, ông Nguyễn Ngọc Tần tìm gặp và nói chuyện với một số thanh niên mà bản thân ông cảm thấy họ có cùng chí hướng với ông và đủ cứng cáp để chịu đựng mọi gian khổ trong cuộc kháng chiến này. Ông đã giác ngộ và vận động được một số thanh niên ở Phú Vinh, Vân Lũng và Yên Lũng đi hoạt động cách mạng.
Với những hoạt động rất tích cực, cuối năm 1948, ông Nguyễn Ngọc Tần vinh dự được kết nạp Đảng.
Đến đây, thiết nghĩ cũng phải nói về bộ máy tề ngụy mà giặc dựng lên ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, sau khi chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của giặc phá sản trong chiến dịch Việt Bắc. Như đã nói, bộ máy tề ngụy của giặc Pháp đa phần là những tên chức sắc trong bộ máy hương lý trước ngày 19 tháng 8 năm 1945. Đội quân bảo an cho giặc lúc này, hay còn gọi là địa phương quân, chính là những tên lính hương dũng, bị bắt đi lính hoặc bị ép buộc mà phải cầm súng chống lại chính đồng bào mình. Với đặc thù của thế trận "cài răng lược" như vậy, Mặt trận Việt Minh ngoài chủ trương phá tề, trừ gian, còn đẩy mạnh việc "nắm tề", lấy việc tuyên truyền giác ngộ chính nghĩa cho binh lính đối phương quay súng về với cách mạng. Đây chính là chiến thuật "lấy nhu thắng cương" mà cha ông ta vẫn làm. Trước tiên vẫn là vận động thuyết phục, tìm cách bắt mối, nhân mối một số tên tề của đối phương, cảm hóa, dần dần để họ làm việc cung cấp thông tin cho ta, hay gọi là làm việc "hai mang". Quán triệt tinh thần này, việc sử dụng bạo lực để trấn áp chỉ là hạ sách khi mà họ đã công khai hoặc gián tiếp gây hại cho cách mạng.
Công tác nắm tề thời gian ấy thường qua hai hình thức chính:
- Tuyên truyền bán công khai bằng các mối quan hệ người làng người xã bảo ban giúp đỡ nhau tiến bộ, thấy rõ phải trái để quay về với chính nghĩa, tránh làm việc hại dân hại nước là cầm súng đi theo giặc.
- Tuyên truyền bán công khai như các cuộc gọi loa vận động, rải truyền đơn quanh bốt Thanh Quang kêu gọi anh em binh lính không cầm súng theo giặc Pháp gây tội ác với nhân dân.
Công tác "lấy nhu thắng cương" này đã có những tác động không nhỏ tới tinh thần binh sĩ đối phương. Như ở Yên Lũng, có những thanh niên ban ngày làm lính tuần tra cho chính quyền tề ngụy, đến đêm lại giũ bỏ áo lính làm du kích gây cho địch rất nhiều khó khăn.
Nói về phương pháp lãnh đạo và công tác dân vận - địch vận của ông Tấn, ông Chu Công Đồng, một thầy thuốc đông y ở xóm Bắc thôn Ngãi Cầu từng sống qua thời kỳ gian khổ ác liệt đó đúc kết lại:
"Ông Tấn bao giờ cũng ôn hòa với quần chúng nhân dân. Với những đối tượng ác ôn được dân thông báo về, ông lấy công tác vận động thuyết phục là chính, ông cho chúng tôi biết: dùng vũ lực với những đối tượng này chỉ là hạ sách... ".
Bốt Thanh Quang là một ví dụ điển hình, từ khi chính thức được xây dựng nâng cấp thành lô cốt vào cuối năm 1948, bốt này liên tục bị quấy rối bằng nhiều hình thức, cả "nóng" và "lạnh": Từ việc các nữ đồng chí làm công tác binh vận được ông Tấn cử ra bắc loa tuyên truyền, rải truyền đơn kêu gọi binh lính giặc ngừng ngay việc cầm súng tiếp tay cho giặc sát hại đồng bào, cho đến cả việc phá hàng rào, bắn súng vào bốt, trong đó có một trận đánh công đồn khiến giặc phải choáng váng mà tác giả sẽ đề cập đến ở phần sau. Để phù hợp với thực tiễn cách mạng trong tình hình mới, tháng 6 năm 1948, hai huyện Đan Phượng và Hoài Đức hợp nhất thành Liên quận huyện Bắc, gọi tắt là Liên Bắc. Từ đây quân và dân hai huyện Hoài Đức và Đan Phượng cùng sát cánh bên nhau trong cuộc kháng chiến, đứng chung dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng bộ Liên Bắc. Đến tháng 4 năm 1954, huyện Liên Bắc tách thành hai huyện Đan Phượng và Hoài Đức ngày nay.
Ông Nguyễn Đức Bảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban hành chính xã An Khánh cho biết:
"Việc đào hầm trú ẩn thời ấy được chỉ đạo nghiêm ngặt xuống từng cấp. Nếu là hầm cá nhân thì từng cá nhân mỗi du kích đào, tự cung tự cấp. Những khi nguy cấp mỗi người có thể nhảy xuống ẩn nấp tại hầm cá nhân. Bà con cơ sở gần đấy sẽ bảo vệ, che giấu. Việc đào hầm tập thể phải hạn chế tối đa không được để quá 3 người một hầm để tránh thương vong lớn. Việc tiết lộ hầm bí mật cho một người thứ tư ở ngoài nhóm, ngoại trừ gia đình cơ sở quanh khu vực mỗi hầm là điều cực kỳ tối kỵ. Mỗi hầm đều phải có lỗ thông hơi. Đào xong, đêm đến mới được lên khỏi hầm đi đổ đất. Đổ đất cũng phải bí mật không để ai biết, ở Ngãi Cầu, đất được đổ nhiều ở bìa đất ngoài cánh đồng Hủ. Người ở trên đi gom tre vụn, tre ngâm với mấy tấm phên nứa cũ đem xuống hầm để người ở dưới rào vách hầm, thống nhất là không được chặt tre tươi ở bụi tre trong xóm đề phòng địch phát hiện rồi truy bứcgia đình cơ sở.
Để có được một căn hầm cho tổ 3 người như vậy là cả một quá trình bí mật rất nhiều công sức. Một khi bị lộ thì hầm mất, người cũng mất theo.
Trong trận càn ngày 12 tháng 7 năm 1949 của địch vào làng Giao Quang thuộc xã Hữu Hưng, do được mật thám chỉ điểm, giặc phát hiện được một số hầm nằm bên bờ tây sông Nhuệ. Trong vòng 6 giờ đồng hồ, tổng cộng có 25 cán bộ, chiến sĩ xã Hữu Hưng đã hy sinh và 7 người bị giặc bắt".
Nói về công việc trú ẩn dưới những hầm cá nhân trong vùng địch tạm chiếm ngày đó, mà cán bộ và du kích thời đó hay gọi là "nằm hầm", cụ Trương Văn Thư người du kích thôn Phú Vinh đã từng trực tiếp hoạt động với ông Chu Trí Tấn nhớ lại:
"Một lần, tôi và ông Tấn cùng một số đồng chí khác xuống hầm ở sau nhà bà Sái ở Ngãi Cầu. Hầm đó có đúng hai lỗ thông hơi bí mật bằng ống trúc đã thuốn đốt. Khi bà Sái vừa đi nhận nhiệm vụ mới thì một toán địch vào thẳng vườn nhà bà. Hôm đó có mấy con gà bới đất ở trên làm tắc cả hai lỗ thông hơi. Cả hầm thiếu dưỡng khí, anh em xỉu dần. Thấy tiếng địch réo gọi nhau ở trên, mấy anh em quyết không lên, có chết thì chết chung chứ quyết không rơi vào tay giặc. Lúc địch vừa rút, chỉ còn duy nhất ông Tấn là người khỏe nhất vẫn còn tỉnh, ông Tấn đứng dậy, một mình nhấc bổng nắp hầm lên, không khí tràn vào kịp lúc. Cả hầm thoát chết. Mỗi trận bị giặc vây như vậy là lại rút ra được bao bài học kinh nghiệm.
Nhiều hầm trú ẩn ngoài trời được đào gần bờ ao hoặc sông để khoét thêm một ngạch nhỏ thoát nước phòng khi trời mưa. Xã An Khánh không có sông lớn nào chảy qua nên ngày đó nhiều hầm được đào ở gần bờ ao. Địch biết việc này nên sục sạo quanh bờ ao khá kỹ mỗi trận càn. Hầm xa bờ ao không có ngạch thoát nước, nằm lộ thiên ngoài trời là người du kích còn phải chiến đấu với cả thiên nhiên mỗi khi trời mưa xuống, mưa trút nước ào ào như ai đó lấy chày đập lở cả vách hầm, rồi cả rắn rết theo nước mưa chui vào trong hầm. Nằm hầm gặp trận sốt rét ác tính mà hầm lại ngập nước thì như cơm đang sôi mà đun thêm lửa. Con số thương vong ngoài vòng chiến đấu, trong đó có nằm hầm, là không hề nhỏ. Đã đi hoạt động cách mạng là xác định đối mặt với sự hy sinh, mất mát rồi. Khi lòng căm thù giặc, tinh thần yêu nước quật cường được khơi dậy thì sức chịu đựng của con người là vô hạn, đến mức có thể làm được những điều ngoài sức tưởng tượng.
Ngoài ra, theo chỉ thị của trên, ông Chu Trí Tấn cùng lãnh đạo xã còn tổ chức cho dân quân du kích xã chúng tôi vận chuyển vũ khí, trang thiết bị, lương thực từ đường dây trung ương qua địa phương An Khánh về các nơi đã được quy định của huyện.



