Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Liệt sĩ Chu Trí Tấn phần IV - Đội quân tóc dài xã An Khánh

Câu chuyện về Liệt sĩ Chu Trí Tấn phần IV

Lai Châu09/03/2026CAND (Chi đoàn PV01)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thật khó mà liệt kê hết được danh sách của các mẹ, các chị đã hoạt động tại An Khánh trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trong phạm vi ngắn của cuốn sách này, chỉ xin đề cập đến một số nhân chứng hiện còn, đã được biết về ông Chu Trí Tấn. Tuy các bà đều đã trên dưới 80 tuổi đời nhưng trí tuệ cho đến giọng nói vẫn còn rất trong sáng, minh mẫn.

Đầu tiên xin kể đến câu chuyện các sư nữ chùa Phổ Quang, một ngôi chùa linh thiêng ở phía tây Ngãi Cầu. Theo một số bà con Ngãi Cầu thì những vị sư thời đó nếu còn thì cũng đã gần 90 tuổi. Được giới thiệu về sư tiểu Thích Đàm Hán sinh năm 1927 ở chùa Phổ Quang thời ấy hiện là Sư cụ chủ trì Chùa Bộc quận Đống Đa, Hà Nội. Cháu đích tôn liệt sĩ Chu Trí Tấn là anh Chu Thành Long đã cùng tôi xin đến gặp và được Sư cụ Thích Đàm Hán tiếp chuyện đến gần một tiếng đồng hồ tại Chùa Bộc. Chúng tôi được biết:

"Thời ấy, ông Chu Trí Tấn chỉ đạo quân dân xã đào hầm cá nhân tại bờ ao, ngoài vườn, bụi tre, trong bếp, ngoài đồng, có 4 hầm còn được đào ngay tại vườn chùa Phổ Quang (chùa Ngãi Cầu), dưới điện Tam bảo nhà chùa1 (Ba hầm nằm trong gian nhà chính, 1 nằm cạnh bụi tre ngoài vườn chùa). Nhiều cuộc họp kín của anh chị em cán bộ xã huyện thường triển khai tại những căn hầm này, được sự bảo vệ, giúp đỡ của các sư thầy, sư Bác trong chùa. Một lần đặc biệt, các ông Chu Trí Tấn, Chu Trí Xiển cùng một cán bộ trên huyện cử về phải họp trong một buổi sáng. Được chỉ dẫn của sư Hán, các ông đã từ ngoài chùa, trèo lên một cây cau sang nhà Tứ Ân sau vườn họp tại đây, vừa bất ngờ, vừa bí mật. Đang họp thì mấy tên lính ngụy theo sau một tên chỉ huy Pháp qua cổng Tam Quan tiến đến cửa một hầm ngoài vườn chùa. Sư Đàm Hán nói to: "Nhà tu hành chúng tôi không thấy một người lạ nào vào chùa". Biết đây là ám hiệu có địch, cả ba đồng chí đã từ nhà Tứ Ân trèo cây cau, nhảy qua tường ra ngoài về hậu cứ an toàn.

Sau này chúng tôi được Sư cụ Thích Đàm Hán kể lại:

"Mô Phật! Các anh biết đấy. Nhà Tứ Ân còn gọi là nhà Cá Voi sau Tam Bảo ít người lui tới. Các anh gặp nhau vào ban ngày, để tránh bị lộ, chúng tôi đã bàn rồi góp ý để các anh họp tại đấy. Việc dân việc nước là quan trọng. Nhà chùa chúng tôi từ trước và mãi mãi sau này sẽ hết lòng bảo vệ các anh". Bà

Bùi Thị Kim nói:

"Giặc Pháp mang quân đánh phá nhà chùa là nơi tu hành linh thiêng. Tại đây, các sư và tăng ni phật tử chỉ biết làm điều thiện cho dân lành, ai cũng căm thù quân cướp nước. Ông Tấn, Mặt trận Việt Minh, anh chị em du kích đứng lên chiến đấu bảo vệ nhà chùa, bảo vệ nhân dân nên được nhà chùa cùng toàn thể bà con hết lòng bảo vệ giúp đỡ nhà sư Hán đã kể".

Theo bà Nguyễn Thị Sái, nguyên Chính trị viên xã đội, phó chủ tịch xã An Khánh sau ngày giải phóng 1954:

"Đầu năm 1946, ông Tấn khi đó là Phó chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời xã Ngãi Cầu đã đến nhà tôi giác ngộ cách mạng cho bố mẹ và gia đình tôi. Đến ngày toàn quốc kháng chiến, ông vận động bố, mẹ tôi sẵn sàng làm cơ sở hoạt động che giấu cán bộ một khi giặc Pháp tràn về, đồng thời đã giác ngộ cho hai chị em tôi đi hoạt động. Được ông giác ngộ và vận động, gia đình tôi luôn là một trong nhiều gia đình cơ sở tin cậy, trung kiên với cách mạng.

Tôi được giao nhiệm vụ tuyên truyền địch vận và công tác phụ nữ, kết hợp với chị Duôi bên xã An Thượng, chị Thào ở Yên Lũng, chị Sâm ở Phú Vinh, chị Tý ở An Thọ, chị Thuyết Chọe, chị Kim Sàng, chị Chu Thị Nhớn... để thực hiện nhiệm vụ do ông Tấn giao cho. Ông Tấn thường kết hợp mỗi lần về xã họp kiểm tra tình hình rồi trực tiếp dạy chữ cho nhiều anh chị em du kích động viên mọi người cố gắng học để thêm điều kiện hoạt động cách mạng.

Được ông giao nhiệm vụ, tôi cùng ông Viễn nhiều lần lên bốt Thanh Quang gọi loa chiêu hồi địch về với cách mạng, đi rải truyền đơn, đào hào phá cầu chặn không cho xe tăng địch tiến vào. Tôi cũng là người giao liên nhiều lần đưa thư liên lạc qua lại giữa ông Tấn với cơ sở ở Phú Vinh của ông Nguyễn Ngọc Tần (em vợ ông Tấn).

Ban đầu tôi làm công tác phụ nữ trong Ủy ban. Khi giặc tràn về, ông Tấn chỉ đạo tôi ở trong ban tổ chức thành lập đội tự vệ chiến đấu, phụ trách vận động thanh niên nam nữ tham gia Đội tự vệ xã. Thời gian đó, tôi đã là người sống công khai nhưng hoạt động bí mật. Tôi đã vận động được nhiều anh chị em tham gia đội tự vệ xã từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Ban ngày tôi cùng một số chị em giả làm người đi chợ để đi thăm dò tình hình địch rồi bố trí cho các anh đến tối đi chiến đấu.

Đầu năm 1948, chủ tịch Chu Trí Tấn nhận chỉ thị thực hiện công tác tổng phá tề trừ gian, phá thế kìm kẹp của giặc đã chỉ đạo Ban binh vận xã, đến 90% là phụ nữ gồm các bà Nhớn, bà Thuyết, tôi và nhiều người khác... bí mật đến từng thôn xóm vận động bà con. Một ngày, nhân dân cả 10 làng đồng loạt trống mõ nổi dậy tổng phá tề trừ gian, xé giấy lát-xê-pát-xê1 (Tiếng Pháp Laissez-passer), một loại giấy thông hành do địch cấp cho dân để ngăn chặn cán bộ ta về bám cơ sở. Ngay trong đợt nổi dậy này, quân, dân xã đã xử lý 3 tên lý trưởng Ngãi Cầu, Vân Lũng và Phú Vinh.

Sau trận này, các nhân viên hội tề không dám ở lại làng mà phải ở tạm Hà Đông hoặc các bốt gần đấy vì sợ du kích bắt hoặc tiêu diệt, thỉnh thoảng mới về làng xem xét tình hình để báo cáo quan trên.

Tháng 8 năm 1948, ông Nguyễn Ngọc Tần sau hơn một năm theo Trường Thiếu sinh quân đã được huyện cử về hoạt động ở xã cùng với ông Chu Trí Tấn, đưa phong trào du kích trong toàn xã phát triển mạnh. Trở về làng, ông Nguyễn Ngọc Tần đã giác ngộ và vận động được một số thanh niên đi hoạt động cách mạng như các ông: Ông Nguyễn Văn Cầu, Nguyễn Văn Bật, Nguyễn Hữu Tý... ở Phú Vinh; ông Trương Văn Thư, ông Khói, ông Phóng, ông Năm, ông Lãng, ông Ngỗng.... ở Vân Lũng, Yên Lũng và An Thọ cùng nhau tình nguyện đi hoạt động cách mạng.

Thời gian này, bộ máy tề ngụy của giặc Pháp đa phần là những tên chức sắc chính quyền Bảo Đại trước ngày 19 tháng 8 năm 1945 bị bắt đi lính hoặc bị ép buộc phải cầm súng chống lại chính đồng bào mình.

Với đặc thù của thế trận "cài răng lược", Mặt trận Việt Minh ngoài chủ trương phá tề, trừ gian, còn đẩy mạnh việc tuyên truyền giác ngộ chính nghĩa cho binh lính đối phương quay súng về với cách mạng.

Một ngày tháng 9 năm 1948, nhân dân trong xã bàng hoàng được tin đồng chí Phan Xích, một cán bộ Huyện đội quê ở Đan Phượng, nổi tiếng gan dạ dũng cảm đã hy sinh tại thôn Yên Lũng trong một trận chống lính bốt Thanh Quang về càn.

Ngay sau khi đồng chí Phan Xích hy sinh, quân và dẫn Liên xã An Khánh - An Thượng đã lập nhiều chiến công trả thù cho đồng đội.

Có nhiều lần, ông chủ tịch Tấn cùng ông Bếp Ngọ đã trèo lên mái nhà tôi rồi nhảy xuống trốn trong căn hầm tại đấy. Mật thám địch biết tin này đã bắt giam tôi. Nhiều lần bị bắt đánh đập nhưng tôi đã không khai báo điều gì có hại cho cách mạng vì luôn nhớ những lời đồng chí Tấn căn dặn: "Làm cách mạng bị địch bắt có chết cũng không khai báo".

Có lần tôi bị địch bắt lên chùa Cả ở Vân Lũng, bị giam ở đó một đêm, chúng không tra hỏi được gì rồi cuối cùng phải trả tự do cho bà.

Lần sau, tôi bị chúng bắt lên bốt ở Đan Phượng tra hỏi về cơ sở của ông chủ tịch Tấn và ông Bích vì chúng đã lần ra manh mối ông Tấn là chỉ huy trực tiếp của tôi. Chúng tra tấn dã man, dìm vào bể nước, cho giật điện vào hai tai nhưng vẫn như lần trước, tôi quyết không khai".

Thời gian này, ông Chu Trí Tấn nhận nhiệm vụ chỉ huy du kích xã phối hợp với anh em đội công an Z, một đơn vị biệt động của Công an tỉnh Hà Đông tìm cách thủ tiêu tên N.T.T là chánh mật thám thuộc sở mật thám Hà Đông. Tên này đã gây rất nhiều tội ác chống cách mạng và nhân dân địa phương, đã chỉ điểm cho giặc Pháp tổ chức những cuộc càn quét vào vùng quê Hà Đông. Sau nhiều ngày trinh sát và bàn bạc với du kích xã, ông thống nhất với anh em lập kế hoạch, chặn đầu, đón lõng, kiên trì nhẫn nại hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Cuối cùng, đồng chí Việt Hùng trên huyện đã cử người đánh tiếng lừa được tên Trang về chợ Ngãi Cầu.

Một buổi sáng, tên N.T.T đi xe đạp một mình về Ngãi Cầu, đến trưa, ông Tấn chỉ huy một tổ công an và du kích gồm 6 người là các ông Hoàng Giang, Hoàng Long, Hoàng Hổ thuộc đội công an Z Hà Đông cùng các ông Nguyễn Huy Tấn, trưởng ban Công an xã; ông Đỗ Đình Viễn và bà Nguyễn Thị Sái. Bà Sái được phân công giả làm người đi chợ để cảnh giới phía trước.

Vừa đến cổng chợ, với bản năng của một tên mật thám lành nghề, nó đánh hơi thấy có động liền phóng xe đạp, quay ngược lại bỏ trốn, ông Tấn chỉ huy đội công an và du kích cùng một số anh em công an đuổi theo, đồng thời rút súng ngắn bắn chỉ thiên báo cho tổ chốt chặn ở đầu làng sẵn sàng hành động. Chạy đến ngoài cây số 8 đầu làng, đội du kích và anh em công an nổ súng tiêu diệt gọn tên này, thu một súng ngắn, một xe đạp, một cặp tài liệu. Ta và dân không ai có thương vong. Chiếc xe đạp chiến lợi phẩm được bán đi, mua được một khẩu súng trang bị cho du kích xã.

Cuối năm 1948, nhiều lần lính lê dương Pháp dùng xe cam nhông đến chùa Phổ Quang nhưng khi gặp những đoạn đường hào bị phá hoại phải dừng lại không đến được đê Thanh Quang. Chúng bắt dân ra san lấp đường hào do du kích đào. Du kích ta từ phía Thanh Quang bắn ra quấy rối, đêm lại ra đào phá đường tiếp gây cho địch rất nhiều khó khăn.

Để tạo thế đứng chân lâu dài ở khu vực trung tâm Liên xã An Khánh - An Thượng, địch âm mưu dựng bốt ngay tại chùa Phổ Quang. Chúng vận chuyển quân trang quân dụng, mang theo rất nhiều dây thép gai đến nơi, bắt dân tập trung san lấp cổng Tây và đường hào.

Vì thế cán bộ và chiến sĩ ta khó có thể ăn ngủ bán công khai ở đây. Các cán bộ nòng cốt như ông Tấn, ôn Xiển phải rút vào hoạt động bí mật, dựa vào dân, dựa vào xóm làng che chở.

Ở chùa Phổ Quang đi, địch kéo quân vào chùa. Do dỡ hết đồ thờ, đem cả tượng Phật lấp lối thông đường đóng chốt tại đây.

Nhận được chỉ thị của huyện, ông Chu Trí Tấn họp bàn với anh chị em du kích quyết định: "Phải đánh cho bọn địch chốt ở chùa Do rút hết ra ngoài!"

Du kích An Khánh được cấp trên trang bị một khẩu ba-zô-ka, loại súng chống tăng, phá lô cốt rất quý thời ấy.

Có ba-zô-ka, ông Chu Trí Tấn đã chỉ định ông Chu Công Thau làm khẩu đội trưởng, các ông Bùi Thế Đằng và Chu Trí Miến là pháo thủ.

Đêm nào ta cũng bắn ba-zô-ka vào đồn giặc nên chỉ sau mấy ngày, địch đã phải bỏ bốt chùa Do lên Thanh Quang, bắt dân xây đồn, đào hào đắp lũy bảo vệ.

Địch ở bốt Thanh Quang gọi pháo từ thị xã Hà Đông bắn quanh làng, rồi cho máy bay thả bom xăng rải thảm. Sau đó một tên quan Pháp cầm đầu một trung đội hnh com-măng-đô tràn vào làng đốt phá, cướp bóc, bắn giết. Hơn 120 ngôi nhà cùng nhiều tài sản, thóc lúa, lợn gà bị thiêu cháy. Một tội ác tày trời của quân giặc. Tên cai Trạc ở bốt Thanh Quang đã dẫn giặc vào làng rồi chính tay hắn châm lửa đốt nhà dân. Sau đó, công an quận IV Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng cùng du kích xã đã phối hợp bắt sống tên cai Trạc, buộc hắn phải đền tội với nhân dân Ngãi Cầu.

Ông Trương Văn Toàn, nguyên Bí thư Huyện ủy Liên Bắc, nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, từng trực tiếp chiến đấu nhiều trận cùng ông Tấn cho biết:

"Ngày 8 tháng 12 năm 1948, ông Chu Trí Tấn đã trực tiếp chỉ huy du kích An Khánh cùng du kích các vùng lân cận phối hợp với tiểu đoàn Đống Đa thuộc Trung đoàn 48 Thăng Long tiêu diệt đồn Đại Mỗ, một vị trí có 40 ngụy binh do cha con tên Bếp Tý chỉ huy. Trong trận này, ta diệt gọn hai bố con tên Bếp Tý, bắt nhiều tù binh, thu toàn bộ vũ khí, trang thiết bị".

Trong một trận càn của giặc Pháp năm 1948, ta bị địch bao vây bốh phía, ông Tấn đưa cho bà Sái cùng đi một túi tài liệu rồi bảo bà phải cố thoát vòng vây. Bà đã cho một hòn đá vào túi tài liệu rồi vứt xuống ao. Thoát được vòng vây về đơn vị, bà Sái gặp ông Tấn để xin kiểm điểm về việc đã vứt tài liệu xuống ao.

Ông Tấn động viên: "Đồng chí làm vậy là đúng vì nếu không, túi tài liệu này lọt vào tay giặc thì không biết có bao nhiêu người phải hy sinh".

Trận đánh này được ghi chép trong cuốh "Lịch sử Cách mạng huyện Hoài Đức 1926-1975" xuất bản tháng 5 năm 1997 như sau:

"21 giờ ngày 8 tháng 12 năm 1948, bộ đội du kích vừa nổ súng, vừa phát loa kêu gọi anh em nhân mối và binh lính cùng phối hợp hành động. Kết quả là đã thu được toàn bộ vũ khí đạn dược, quân trang quân dụng, phóng lửa đốt đồn, giải tù binh ra vùng tự do, đồn trưởng bị diệt. Chiến thắng Đại Mỗ đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào chiến tranh du kích ở huyện, giáng một đòn đích đáng vào âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của địch".

Trong tập san "Sinh hoạt nội bộ" số 2 tháng 12 năm 1948, đồng chí Trường Chinh đã đánh giá thắng lợi của trận tiêu diệt đồn Đại Mỗ trong bài "Nhất định phải phá kế hoạch của Pháp chiếm hình tam giác Hà Nội - Sơn Tây - Hòa Bình". Bài này có đoạn viết:

"Về chiến lược, tất cả các khu vực, các mặt trận toàn quốc phải đánh mạnh để phối hợp với các mặt trận Trung du và Mặt trận Liên khu II Bắc Bộ, không cho địch tập trung quân và rảnh tay đánh những nơi đó. Phải phá trận tấn công Thu Đông của địch về mọi mặt, quân sự, kinh tế, chính trị... Thi hành những nhiệm vụ trên, ta đã thấy quân ta tiêu diệt vị trí Đại Mỗ (Hà Đông) đêm 8 tháng 11 năm 1948".

Cuốn "Hà Tây, lịch sử kháng chiến chông thực dân Pháp 1945-1954", Nxb Quân đội nhân dân 1998 ghi:

"Trận nội công ngoại kích đồn Đại Mỗ là niềm tự hào của các lực lượng vũ trang và ngành địch vận của tỉnh Hà Đông".

Một lần, ông Lê Chân, Bí thư Huyện ủy Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng và bà Nguyễn Thị Sái bị địch bắt về bốt Thanh Quang.

Bà Sái kể lại:

"Tên sếp bốt tra hỏi tôi:

- Mày ở đâu?

- Tôi ở làng Ngãi Cầu!

- Mày có biết thằng Chu Trí Tấn không?

- Tôi có biết!

- Thế giờ nó ở đâu?

- Trước vợ chồng anh ấy làm thợ may, đến khi quân Pháp về thì vợ chồng anh ấy chạy đi đâu tôi không rõ.

- Mày còn cãi, thằng Tấn làm chủ tịch mà mày không biết.

- Anh Tấn làm chủ tịch thì các ông biết chứ tôi người làng có biết đâu. Tôi chỉ biết vợ chồng anh Tấn làm thợ may rồi bỏ đi đâu tôi không biết.

- Thế mày biết thằng Chu Danh Bích không?

- Tôi có biết!

- Thằng Bích làm gì?

- Trước anh Bích đi buôn trâu bò, giờ anh ấy làm thầy cúng chạy đi đâu tôi không rõ nữa.

- Mày còn cãi, nó làm ở xã đội xã Sơn Trang.

- Các ông biết thì đi mà bắt anh Bích chứ tôi đâu có biết xã đội xã đung gì đâu".

Lần nữa, ông Lê Chân lại cùng bà Sái và một số đồng chí khác bị bắt, bị trói đưa về bốt. Sau khi tra tấn dã man, tên chỉ huy bốt hỏi ông Lê Chân:

- Mày làm gì bọn tao biết cả rồi. Không phải nhiều lời!

Ông nói thẳng vào mặt chúng:

- Tao không sợ chết. Chúng mày có sợ chết không?

Chúng cởi trói cho ông rồi một tên rút con dao găm cắm lên bàn. Tên đội nói:

- Mày chết thử tao xem nào!

Ông đẩy chiếc bàn làm tên đội ngã ngửa rồi nói với các đồng chí:

- Các đồng chí, hãy noi gương tôi, đừng sợ chết, tất cả vì Cách mạng.

Sau đó ông đã rút dao găm rạch bụng tự vẫn ngay trước mặt bà Sái và các đồng chí khác đang bị trói cạnh ông.

Tên thầy Đội tiếp tục tra khảo bà Sái:

- Có người nói là mày có một khẩu súng lục, có phải vậy không?

Bà ngạc nhiên, vì bà làm công tác giao liên và công tác phụ nữ thì lấy đâu ra súng lục, đến cả du kích của xã có người vẫn phải dùng đao kiếm chứ đã làm gì có súng. Nhưng rồi bà bình tĩnh nói:

- Có, tao có súng lục đấy!

- Thế súng của mày để đâu?

- Súng tao để cho ông chủ tịch Tấn và các đồng chí của tao bắn vào lũ chúng mày để trả thù cho anh Lê Chân. Tao làm cách mạng có chết cũng không tiếc đâu!

Tra tấn không khai thác được gì, chúng bắt bà đi tù ở Nhà Tiền, Hà Nội.

Bà bị bắt được một tháng thì em trai bà hy sinh cùng lúc với 9 liệt sĩ khác ngày 10 tháng 12 năm 1950 tại Ngãi Cầu do bị chỉ điểm.

Xin giới thiệu tiếp đến một nữ đồng chí khác trong "Đội quân tóc dài" An Khánh, bà Bùi Thị Kim. Bà bắt đầu tham gia cách mạng từ đầu năm 1947. Đến tháng 5 năm 1948, tại Đại hội của Ủy ban xã họp tại nhà bà Hải, bà Kim chính thức được ông Tấn cử vào hoạt động trong Ban binh vận của xã. Giặc Pháp về đóng ở Cầu Đôi lập phòng tuyến II bảo vệ Hà Nội, xây bốt Đại Mỗ. Theo chỉ đạo của ông Tấn, bà và Ban địch vận đã nhiều lần ra bốt Đại Mỗ rải truyền đơn kêu gọi binh lính ngụy buông súng về với cách mạng, góp phần vào trận diệt đồn Đại Mỗ của du kích Liên xã An Khánh - An Thượng do ông Chu Trí Tấn trực tiếp chỉ huy cuối năm 1948.

Nữ du kích Bùi Thị Kim cùng các chị trong Ban binh vận đã nhiều lần cùng nhau vận động dân làng đi đào hào chữ chi ngang đường đoạn cống Tây vào chùa Phổ Quang để ngăn không cho xe tăng đi qua. Bà được ông Tấn giao nhiệm vụ trinh sát và cảnh giới. Cứ sáng ra là đội nón xách theo đôi quang gánh giả vờ đi chợ, nếu thấy có địch hoặc thấy động thì hạ nón xuống khoác vào cánh tay để các anh em biết mà lánh. Nếu phát hiện thấy dấu hiệu địch chuẩn bị có hoạt động quân sự là lại báo về cho cơ sở của ông Tấn biết. Sẩm tối là bà lại treo nắm cơm trên nóc hầm cho các ông lên ăn rồi đi hoạt động. Bà từng cùng nhiều chị em góp tiền mua vũ khí cho du kích. Thường các cuộc họp bí mật của Huyện ủy được tổ chức tại cơ sở bí mật trong So Sở, cán bộ đi họp bịt mặt bằng khăn vuông, không biết mặt, chỉ biết tiếng. Trong các đồng chí lãnh đạo huyện trực tiếp họp bàn giao chỉ thị cho ông Tấn, bà Kim còn nhớ có ông Việt Hùng, cán bộ công an huyện, ông Chấn Hưng và ông Hoàng Lễ.

Và tiếp theo là bà Nguyễn Thị Cúc, con gái nhà cụ Rậm ở xóm Bắc, một gia đình cơ sở trung kiên với cách mạng. Nhà bà là cơ sở từng che giấu rất nhiều cán bộ và du kích. Bà chỉ lo cơm nước cho anh em về hoạt động, còn lại bà không tham gia các cuộc họp của cán bộ Việt Minh theo nguyên tắc bí mật. Vườn nhà bà có cái ao và bụi tre rất rộng nên rất thuận lợi cho cán bộ và du kích đào hầm làm cơ sở ra vào xã. Thường xuyên ở cơ sở nhà bà là ông Tấn, ông Xiển, ông Bích, ông Thau, ông Chu Hữu Thông và các anh em bộ đội C36. Nhớ về ông Tấn, bà Cúc nói:

"Tôi nhớ nhất có một lần sẩm tối, sau giờ xơi cơm, tôi ra sân lấy đôi đũa cả gõ vào cái ống tre đựng đũa làm ám hiệu cho các anh trong hầm lên ăn cơm. Vừa lên được một lúc thì địch càn về vây tứ phía. Mỗi anh em chạy một nơi. Ông Tấn nhảy lên ngay đỉnh đống rạ góc sân nhà, lấy rạ đắp lên người. Địch đi qua lấy bồ cào bới gốc rạ. Ông Tấn nằm ngay trên đấy mà chúng không biết. Khi không bắt được ai, chúng bỏ đi. Thấy yên, tôi gõ đũa làm ám hiệu cho anh em. Ngay hôm sau bọn địch lại đến nhà tôi đập cửa. Ông Tấn với anh em nấp trong vườn chuẩn bị sẵn sàng đối phó. Tôi mở cửa cho chúng nó vào sân. Chỉ mấy phát súng của ông Tấn, chúng nó bỏ chạy tán loạn".

Chị em nữ du kích xã thường nói với nhau về việc Chủ tịch Tấn rất quan tâm đến đội quân tóc dài vì theo ông chị em có lợi thế là ít bị địch theo dõi. Chúng cho phụ nữ chỉ là những người nội trợ đi chợ mua, bán. Ông Tấn hay giáo dục chị em bằng hình thức kể những câu chuyện lịch sử yêu nước của hai chị em bà Trưng Trắc, Trưng Nhị đã tuyển quân, chỉ huy quân trong đó có đến hàng chục nữ tướng tóc dài đánh tan đội quân xâm lược của Thái thú Tô Định đời nhà Hán, lần đầu chấm dứt chế độ thống trị 246 năm của đế quốc xâm lược phương Bắc. Sau Hai Bà Trưng tiếp đến Bà Triệu, với một đội quân có rất nhiều chị em đã đánh tan quân xâm lược đời Đông Ngô. Dưới thời Pháp thuộc là bà Đặng Thị Nhu, vợ ông Hoàng Hoa Thám đã giúp chồng trong chỉ huy cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Bắc Giang, tạo điều kiện cho ông Hoàng Hoa Thám được tôn vinh là "Đề Thám - con Hùm sám vùng Yên Thế".

Từ năm 1949, thực dân Pháp đã chiếm đóng hoàn toàn Liên huyện Đan Phượng - Hoài Đức (huyện Liên Bắc), gồm 7 phân khu quân sự lớn ở Thụy Phương, Hạ Trì, Phùng, Giá (Đắc sở), Thanh Quang, Diễn (Phú Diễn) và Lai Xá; cùng nhiều đồn bốt khác do lính ngụy và tề vũ trang chiếm đóng. Địa bàn xã An Khánh nằm sâu trong vùng tạm chiếm, việc vận động khí tài từ xưởng quân giới tỉnh Hà Đông đóng ở Mỹ Đức và cấp dưỡng cho dân quân du kích đánh địch là rất khó khăn.

Cho tới cuối năm 1949, lực lượng vũ trang tỉnh Hà Đông đã hình thành hai thứ quân: Dân quân du kích ở thôn, xã và bộ đội địa phương ở tỉnh, huyện. Dân quân du kích toàn tỉnh Hà Đông có 114 súng trường, 5 tiểu liên, chủ yếu vẫn là mìn, lựu đạn, địa lôi: bộ đội địa phương các huyện của tỉnh Hà Đông đã có 319 súng trường, 14 trung liên, 41 tiểu liên và 2 khẩu súng cối.

Ngày 10 tháng 2 năm 1949, được mật thám báo tin ông Tấn đang họp với du kích mấy làng ở thôn 14 Phú Vinh, địch từ bốt Thanh Quang bủa về vây bắt ông. Ông Tấn đã chỉ huy du kích dùng lựu đạn đánh chặn địch ngay ở cổng thôn rồi rút lui về đầu ngõ nhà ông Sơ ở làng An Thọ. Địch đuổi theo hòng bắt bằng được ông chủ tịch xã. Bị vây chặt bốn bề, ông Tấn đã ném một quả lựu đạn về phía bọn địch đang đuổi ông. Thừa lúc địch nằm rạp hết xuống tránh lựu đạn nổ, ông Tấn và ông Nguyễn Đức Bảo (có thời đã là bí thư đảng bộ xã An Khánh) chạy vào nhà ông Sơ rồi nấp vào căn hầm ở ngay bụi tre trong vườn sau nhà và thoát được trận vây này an toàn.

Không bắt được ông Tấn, địch kéo nhau đến Phú Vinh gọi dân ra đình làng rồi bắt 8 người đi tù. Sau này, kể lại kỷ niệm với ông Chu Trí Tấn trong trận đánh ngày 10 tháng 2 năm 1949, ông Bảo đúc kết sáu chữ để mô tả về vị chủ tịch xã đầu tiên này: "Gan dạ - Mạo hiểm - Mưu lược".

Mờ sáng ngày 19 tháng 4 năm 1949, lính Com-măng-đô từ Hà Đông có xe tăng yểm trợ tổ chức một trận càn lớn theo đường 72 về hướng đê sông Đáy để giải vây cho đồng bọn ở bốt Thanh Quang đang bị du kích Liên xã An Khánh - An Thượng và Vân Côn, Đại La vây lỏng suốt 7 ngày 7 đêm.

Rơi vào thế trận báo động liên hoàn chiến của ta, không quá bất ngờ, ông Tấn cùng du kích xã đã bình tĩnh tổ chức đánh chặn địch bằng lựu đạn chày ngay khi một cánh quân của chúng mới đánh qua chùa Tổng tới Ngãi Cầu, đẩy lui trận càn này của giặc sau nhiều giờ chiến đấu. Chiến thắng này được Tỉnh ủy biểu dương ngay sau đó là một trong những "trận chiến đấu chống càn điển hình của dân quân du kích", đồng thời "đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang địa phương".

Cùng với những trận phục kích địch ngay giữa ban ngày ở khu Biển Sắt (ngã ba Hà Đông - Tây Mỗ - Ngãi Cầu) trong năm 1950, lực lượng vũ trang Liên xã An Khánh - An Thượng với hạt nhân nòng cốt là anh chị em du kích thôn Ngãi Cầu xứng đáng với 8 chữ được nhân dân trong vùng vẫn tôn vinh: "Tây cự Thanh Quang - Đông chiến Biển Sắt".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Liệt sĩ Chu Trí Tấn phần IV - Đội quân tóc dài xã An Khánh | Câu chuyện thời hoa lửa