Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Liệt sĩ Chu Trí Tấn phần kết - Năm 1951 - Năm ác liệt

Câu chuyện về Liệt sĩ Chu Trí Tấn phần Kết

Lai Châu09/03/2026CAND (Chi đoàn PV01)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau dịp Tết Nguyên đán năm Tân Mão 1951, bọn tề vũ trang ở Ngãi Cầu bắt đầu có những thủ đoạn xảo quyệt, vỗ về, xoa dịu tội ác với nhân dân.

Ngày hội làng mùng 8 tháng Giêng năm đó, các chức sắc và hương dũng yêu cầu người dân mở hội, tổ chức rước kiệu từ đình về Quán dưới sự bảo vệ nghiêm ngặt của lính hương dũng. Bọn chỉ huy bốt cho dân phá lối rào, dọn đường từ Cột đồng trụ vào Quán để dân rước kiệu vào tế lễ. Ở khu vực chợ Ngãi Cầu, chúng cho mở một số trò chơi như: đánh bạc, đánh thò lò, tam cúc điếm, buổi tối có hát chèo.

Tổ chức lễ hội như thế, giặc và đám tay sai muốn chứng tỏ với Việt Minh rằng: với 4 bốt tề vũ trang mới dựng lên trong Liên xã An Khánh - An Thượng, giờ đây địa phương này đã là địa bàn của chúng, dân đã nằm trong tay chúng! Nhận định đây là một bước đi quan trọng hòng phô trương sức mạnh của giặc, Chủ tịch Chu Trí Tấn quyết định sẽ cùng một số anh em công an xã và tổ du kích xuất hiện trong dịp lễ, gây thanh thế cho Việt Minh, để nhân dân biết Việt Minh có ở khắp mọi nơi, ngay cả tại nơi nguy hiểm nhất, ông cùng ông Đỗ Đình Viễn, cán bộ địch vận, mặc áo dài, đội khăn xếp, trà trộn vào đám đông. Ông Chu Công Thau làm nhiệm vụ cảnh giới và yểm trợ. Sau bữa cơm tối, cả ba người từ trong xóm đi ra. Vào sân chợ giữa lúc người dân đang xem đám hát chèo réo rắt, đi được mấy vòng thì bọn lính hương dũng mới nhận ra các ông. Chúng hô to: "Việt Minh! Việt Minh!".

Thế là từ đám hát chèo cho đến người xem và cả lính canh nháo nhác như ong vỡ tổ. Đồng chí Chu Công Thau đã rượt đuổi tên lính vào tận sân bốt, vặn quặt tay cầm lựu đạn, tay kia bắt vứt dao găm ra xa, hỏi và tuyên bố tha tội chết. Trong nhốn nháo hỗn độn giữa dân và lính, cả ba ông và anh em du kích, công an đều rút lui an toàn. Cuộc đột nhập đã làm cho bọn tề vũ trang ở Ngãi Cầu cũng như các bốt khác phải kinh ngạc, nhân dân thêm một lần cảm phục những người cán bộ Việt Minh.

Sau vụ hoạt động của Việt Minh trong hội làng năm ấy, địch ở bốt Thanh Quang cho dán cáo thị, truy lùng gắt gao ông Chủ tịch xã Chu Trí Tấn. Giặc treo thưởng hàng ngàn đồng bạc Đông Dương cho ai lấy được đầu của ông Tấn đem về nộp cho chúng. Đồng thời kết hợp với hệ thống đồn bốt mới xây dựng, giặc đẩy mạnh nhiều cuộc lùng sục càn quét, dùng mọi thủ đoạn, kể cả mua chuộc dụ dỗ để đánh phá phong trào.

Từ cuối 1950 sang năm 1951 là giai đoạn cực kỳ khó khăn và khốc liệt, hàng loạt cán bộ và du kích bị lùng bắt, các gia đình bị nghi ngờ là cơ sở che giấu cán bộ bị truy bức, bị khủng bố. Nhiều cán bộ cơ sở phải bật sang vùng tự do lánh mặt tạm thời vì đồn bốt địch đã xây dựng khắp nơi, thế đứng chân lâu dài đã không còn.

Cuốn "Lịch sử Cách mạng huyện Hoài Đức 1926-1975" đã ghi rõ về giai đoạn khó khăn này như sau:

"Mặc dầu quân dân liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng chiến đấu anh dũng nhưng trước sự đánh phá quyết liệt bằng nhiều lực lượng, nhiều thủ đoạn nguy hiểm nhất là chúng dùng tề vũ trang kết hợp với do thám chỉ điểm, nên nhiều cán bộ đảng viên hy sinh. Cuối 1950 đến đầu 1951, hầu hết các khu du kích liên hoàn ở Liên Bắc bị đánh phá, trên 500 cán bộ, bộ đội và du kích bị bắt hoặc hy sinh, số còn lại phải bật sang vùng tự do. Riêng tháng 2 năm 1951, đã có tới 40 cán bộ, đảng viên bị bắt, bị giết. Lực lượng dân quân du kích bị tan rã. Từ đầu năm, Đại đội 36 phải phân tán lực lượng, chuyển hướng sang hoạt động chính trị gây cơ sở, đến nay đã tiêu hao một trung đội. Hầu hết cán bộ xã phải lưu vong ra Hòa Bình, Bãi Sậy và các vùng lân cận trong tỉnh. Phong trào kháng chiến ở Liên Bắc lâm vào tình thế vô cùng khó khăn. Cho đến giữa 1951, toàn Liên Bắc đã có đến 52 làng tề vũ trang...".

Sau khi xây dựng được 4 bốt tề vũ trang trong địa bàn xã, bốt Vân Lũng đóng ở chùa Cả nổi lên là địa điểm tập trung những tên ác ôn khét tiếng trong vùng. Đặc biệt là toán lính ba-tui của bốt này đội mũ nồi đen, mặc quần áo đen, thắt lưng đeo lựu đạn dao găm, mỗi tên một khẩu súng trường; đây là những hung thần khát máu đối với người dân trong xã. Sẩm tối, chúng đi tuần đến đâu là người dân nơm nớp lo sợ không dám thắp đèn, cửa đóng then cài kín mít. Địch rào dậu kín khuôn viên chùa Cả làm nơi đóng quân với một trung đội được trang bị hỏa lực mạnh.

Giữa lúc tình thế chung trên các vùng địch tạm chiếm đặc biệt nguy nan, Chủ tịch Chu Trí Tấn chỉ đạo cho du kích xã tổ chức một trận đánh vào bốt Vân Lũng.

Tối ngày 8 tháng 2 năm 1951 toán lính ba-tui đi tuần vừa ra khỏi cửa chùa để sục sạo càn quét. Sau phát súng hiệu lệnh cùng tiếng hô xung phong của ông Chu Trí Tấn, ông Thau dẫn đầu du kích xã xông lên đánh giáp lá cà với lính ba-tui bốt Vân Lũng; đồng thời hai đồng chí, một công an và một du kích nấp sẵn trên ngọn cây cao ở cửa chùa đồng loạt ném lựu đạn vào đúng khu vực bọn địch.

Địch hoảng hốt bỏ chạy tán loạn. Ta thu một số vũ khí và lựu đạn, diệt và cảnh cáo nhiều tên ác ôn của bốt Vân Lũng. Địch thực sự chỉ là những tên ác ôn ức hiếp, đàn áp dân thường chứ khi gặp dân quân du kích địa phương tổ chức tiến đánh chúng đã tan rã nhanh chóng.

Được tin bốt Vân Lũng bị tập kích, địch ở bốt Thanh Quang càng thêm điên cuồng. Tên sĩ quan Pháp chỉ huy bốt Thanh Quang treo thưởng hàng vạn đồng bạc Đông Dương cho bốt nào bắt được ông Tấn đem nộp cho chúng.

Cuối tháng 5 năm 1951, nhận chỉ thị của trên, ông bí mật vào núi Trầm, Quốc Oai để dự cuộc họp Hội nghị mở rộng của Huyện ủy Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng.

Cùng thời gian này, bộ đội ta mở chiến dịch Quang Trung đánh vào phòng tuyến sông Đáy. Tại vùng tạm chiếm Đan Phượng - Hoài Đức, địch tăng cường càn quét khủng bố phong trào suốt các tháng 5 tháng 6 năm 1951, gây những thiệt hại vô cùng to lớn cho cách mạng và quần chúng cơ sở.

Để chuẩn bị kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5, ngay từ giữa tháng 4 năm 1951, ông Tấn đã báo chỉ huy du kích xã sắp đặt một trận đánh tập kích bí mật ở triền đê đoạn nằm giữa nhà thờ làng Lại Dụ và nhà thờ làng Đông Lao. Ông Tấn cùng ông Chu Công Thau, ông Chu Danh Bích, ông Đỗ Đình Viễn, và ông Nguyễn Trân Đường phối hợp với du kích Đông Lao đào hai hầm đối diện nhau ở hai bên triền đê, rào kín bởi nắp hầm ngụy trang bằng vạt cỏ tươi và cành cây khô. Mọi công tác chuẩn bị và cấp dưỡng cơm nước cho trận đánh này được giao cho các nữ du kích Ngãi Cầu.

Trận đánh được chuẩn bị rất chu đáo nhưng vào phút chót thì kế hoạch bị lộ.

Địch từ bốt Thanh Quang tổ chức ém quân đánh úp hai căn hầm bí mật của ta. Một ngụy binh được ta nhân mối trong bốt Thanh Quang đã kịp thời báo tin này cho du kích ta biết từ hôm trước nên ông Tấn và tô du kích mai phục đã kịp thời rút lui.

Đến khi tổ nữ du kích Ngãi cầu do bà Kim Sàng dẫn đầu mang theo quang gánh giấu đầy cơm nắm và nước uống giả làm người đi chợ về hướng Đông Lao, từ xa đã thấy nhiều tên lính bốt Thanh Quang do tên quan Pháp chỉ huy đang vây đầy quanh miệng hầm. Không bắt được một cán bộ Việt Minh nào, địch càng thêm điên cuồng mất ăn mất ngủ vì du kích Ngãi Cầu.

Đến đầu tháng 6 năm 1951, ông Chu Trí Tấn sang Quốc Oai tham dự Hội nghị mở rộng do Huyện ủy Liên Bắc tổ chức về đẩy mạnh bám và gây dựng cơ sở, phê bình và tự phê bình. Tại Hội nghị này, Huyện ủy viên Chu Trí Tấn nhận quyết định làm Phó chủ tịch Liên huyện Đan Phượng - Hoài Đức, trực tiếp chỉ đạo phong trào ở địa bàn liên huyện.

Khoảng thời gian giữa năm 1951, phong trào trên toàn tỉnh gặp muôn vàn khó khăn dẫn đến tư tưởng bi quan, dao động trong một số đảng viên, cán bộ1 (Hà Tây, Lịch sử khảng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân. 1998).

Những ngày cuối năm 1951 địch đã tổ chức nhiều cuộc càn quét bắt bớ giết hại cán bộ của ta, tổn thất của phong trào cả 5 làng của xã An Khánh thời gian này không gì có thể diễn tả hết được.

Tháng 7 năm 1951 tại Phú Vinh, địch sục hầm bắn chết một lúc 6 cán bộ do huyện cử về. Tháng 11 năm 1951, đồng chí Bật, phó chủ tịch xã bị bắt, tra tấn đánh đập rất dã man nhưng không khai thác được gì, chúng đã thủ tiêu đồng chí.

Cùng thời gian ở Yên Lũng, đồng chí Quang người La Cả được huyện điều về và đồng chí Khoát làm giao thông huyện cũng bị địch bắn chết. Đồng chí Thào cũng tiếp tục bị địch bắt.

Sau đó ở Vân Lũng, đảng viên Trương Văn Năm bị giặc truy đuổi, đồng chí bắn trả quyết liệt rồi cho nổ lựu đạn hy sinh anh dũng.

Cả Phú Vinh, Yên Lũng, Vân Lũng lúc này đều thành cơ sở trắng.

Đêm 24 tháng 6 năm 1951, lính bốt Ngãi Cầu phục kích, bắn chết cụ Thiện.

Cũng trong tháng 6 năm 1951, chúng vây chặt xóm Mái Sau, bắn chết đồng chí Chu Hữu Viết là bộ đội Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng vừa được cử về liên lạc với địa phương.

Tháng 7 năm 1951, được chỉ điểm, lính bốt Ngãi Cầu kéo vào vây nhà cụ Yên ở xóm Mái Sau, bắn chết hai đồng chí Quang và Phú, quê xã Thọ Nam vừa được huyện cử về làm việc.

Đêm 16 tháng 7 năm 1951, đồng chí Nguyễn Viết Phượng, xã đội phó An Khánh bị địch phục kích hy sinh tại xóm Cầu, An Thọ.

Đêm 19 tháng 7 năm 1951, chúng phục kích ở xóm Tây lẻ nhưng không bắt được ai.

Suốt thời gian này, tại Ngãi Cầu, bọn lính hương dũng ngày đêm đi thuốn hầm, phục kích nhằm bắt cán bộ Việt Minh những con mồi lớn nhất mà chúng đang săn đuổi chính là ông Chủ tịch Chu Trí Tấn.

Chúng nhận thấy rõ còn Việt Minh thì chúng còn ăn ngủ không yên.

Từ mấy ngày trước, ông đã bắt liên lạc được với cơ sở ở Ngãi Cầu và báo cho địa phương chuẩn bị tổ chức cuộc họp bí mật giữa ông với ba đồng chí huyện vừa tăng cường về tại nhà bà Hựu, một cơ sở cách mạng tin cậy vào đêm 9 tháng 8 năm 1951.

Sau khi thống nhất, nhóm 3 đồng chí này sẽ đi đường riêng đến điểm hẹn tại nhà bà Hựu. Ông Tấn chủ trì cuộc họp nên sẽ có mặt đầu tiên từ sẩm tối.

Hôm ấy, ngày mùng 7 tháng 7 Tân Mão, ông ăn cơm chiều sớm hơn thường lệ tại nhà cụ Phó Đình Tụ ở xóm bắc Ngãi Cầu, một gia đình cơ sở trung kiên với cách mạng. Ăn cơm chiều xong, ông bí mật hẹn gặp ông Tất ở xóm Đông để lên kế hoạch đi vào nhà bà Hựu, nơi tổ chức cuộc họp.

Ông vào nhà cụ Thất ở xóm Đông gặp ông Tất, bàn với ông Tất tìm đường đi vào nhà bà Hựu sao cho an toàn nhất.

Ông Tất là một cố nông đi cày ruộng thuê cho nhà cụ Thất. Cả ông Tất và cụ Thất đều là những người có cảm tình với cách mạng nên ông Tất đã tình nguyện đi trước dẫn đường cho ông Tấn.

Ngoài đồng nhiều bà con đang cấy lúa. Ông Tất mặc cái áo tơi lá, đội nón, xách cái điếu cày đi trước để dò la tình hình.

Ông đi ra từ cổng nhà cụ Thất nơi có tượng con chó nhỏ bằng đá đã mòn, ngang qua miếu xóm Đông, rồi quặt vào lối rẽ về ngõ nhà bà Hựu.

Trên đường đi, ông Tất cố ra vẻ lấm lét để dò xem có tên hương dũng nào nấp quanh đây không.

Bọn hương dũng trong làng đã được tên sếp bốt Thanh Quang người Pháp treo thưởng hàng vạn đồng tiền Đông Dương cho ai bắt được ông Tân đem nộp nên chúng đã quyết tìm bắt ông Tấn.

Trời quang mây, ánh trăng khi mờ khi tỏ đủ cho bọn chúng thấy được người núp sau cái áo tơi đi qua mặt chúng không phải là ông chủ tịch Tấn, vốn là người cao lớn có tiếng trong vùng mà chúng ít nhiều đã từng biết mặt trước khi ông rút vào hoạt động bí mật.

Đợi cho ông Tất đi rồi, chúng vẫn kiên nhẫn núp trong vệ rặng rào với mấy bụi xương rồng nhìn chéo ra cửa miếu xóm Đông.

Không thấy có gì nghi ngờ, ông Tất an tâm đi thẳng về nhà. Ông Tấn khi đó đang nấp sau cánh cổng nhà cụ Thất. Tuy ông có thể trèo rào thẳng vào nhà bà Hựu nhưng vì cơ sở nhà bà Sái cạnh nhà bà Hựu đã bị lộ và cũng để đề phòng chó sủa khi có người lạ trèo rào nên ông Tấn quyết định một mình vào thẳng cổng chính nhà bà Hựu. Theo kế hoạch, khi ông đã vào được nhà bà Hựu an toàn thì ba đồng chí trên huyện như đã hẹn sẽ lần lượt có mặt lúc nửa đêm để họp và ông sẽ phân phát tài liệu cho các đồng chí như dự kiến.

Một lát sau, khoảng 9-10 giờ đêm, ông Tấn mặc bộ quần áo nâu may bằng vải gụ, thắt lưng da cài bao súng ngang hông, đeo túi xà cột bằng da đựng tài liệu lặng lẽ ra khỏi nhà cụ Thất rồi đi về phía nam hướng đến ngõ nhà bà Hựu. Qua cửa miếu xóm Đông, đến cổng nhà bà Khuê, ông nhìn bốn phía thăm dò rồi chuẩn bị rẽ phải hướng về ngõ nhà bà Hựu. Tại ngay ngã tư đầu ngõ có hòn đá thiêng mấy trăm năm nay, chỉ to bằng cái mai rùa mà chưa ai cậy được lên hay xê dịch đi đâu được.

Khi ông chỉ còn cách hòn đá thiêng đó độ hai ba bước thì ba tên lính hương dũng nấp sẵn trong vệ rào nhảy ra chặn đường. Từ phía sau, hai tên khác núp sẵn trong căn miếu chạy ra bao vây ông. Hai tên đứng trước chĩa súng trường vào ông, tiếng súng kéo chốt lên đạn răng rắc, sắc lẹm. Theo một nhân chứng cho biết cả năm tên hương dũng này đều là người thôn Ngãi Cầu. Tên chỉ huy đứng giữa rút súng ngắn kiểu Ru-lô của Pháp hỏi:

-Ai?

Biết rằng đã bị lộ, ông nhìn thẳng vào mắt hắn rồi quát to:

- Tao, tao đây...!

Ông Tấn vùng nhanh ra khỏi vòng vây của bọn chúng, chạy vào ngõ đổ về hướng đông thẳng ra vệ làng. Tên cầm đầu hô:

- Đứng lại! Đứng lại không tao bắn!

Hắn bắn một phát súng ngắn nhưng không trúng. Được lệnh khai hỏa, hai tên hương dũng đi theo đồn loạt nổ súng. Một viên đạn trúng ngay vào cánh tay bên phải, ông Tấn kêu vang lên một tiếng rồi theo đà chạy ngã chúi xuống bên cạnh bờ ao nhà bà Sề. Tay phải bị thương, ông phải dùng tay trái rút khẩu súng lục ra, lấy răng kéo chốt lên đạn rồi bắn trả. Do bắn súng ngắn bằng tay trái, trời lại tối, nên đường đạn đi không chính xác. Ngay sau phát đạn bắn trả đầu tiên, bọn lính hương dũng theo phản xạ đã nằm rạp hết xuống đất để tránh đạn. Chừng đó cũng đủ thời gian để ông Tấn vùng chạy tiếp.

Ra đến vệ làng, ông vùi súng xuống bùn ở bờ chuôm nhanh giấu đi, chạy tiếp về hướng Đông Mả Dược ở cánh đồng Giữa. Chạy ra đến vệ làng thì bọn lính hương dũng mất dấu của ông. Khi đó, ông đã lần ra đến gần Đông Vuông, cố gắng chạy tiếp. Bất ngờ, ông vấp phải bò ruộng ngã dúi xuống. Phía trên con đường đất, một tên lính hương dũng nghe thấy tiếng động lạ liền gọi đồng bọn ra chạy về phía Đông Vuông. Bị thương nặng, máu ra nhiều, biết rằng khó có thể chạy thoát, ông lấy xấp tài liệu từ trong túi xà cột, với đầy đủ danh sách các đồng chí nằm vùng của ông cùng vị trí các hầm bí mật cất giấu vũ khí cho kế hoạch sắp tới. Ông xé nát tài liệu rồi lâp xuống bùn. Vừa kịp lúc chúng soi đèn dầu chạy lại bủa vây và bắt được ông. Tại bờ ngang nơi ông ngã, cả một vũng máu to loang rộng vát sang cả bờ lúa.

Bắt được ông Tấn, bọn hương dũng gọi tất cả những nhà dân ở xóm Đông phải thắp đèn sáng, ai ở yên nhà nấy tuyệt đối không được đi đâu nếu chưa có lệnh của chúng, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Chúng vào nhà ông Ôn ở xóm Đông lấy ra cái chõng tre, rồi bắt hai người thanh niên ở xóm Đông là ông Ôn và ông Ngôn ra khiêng ông Tấn đang bị thương về bốt Ngãi Cầu.

Khiêng được nửa đường đến cổng xóm Trại, đám lính hương dũng vào nhà ông Chu Đắc Thương, bắt ông Thương và ông Nguyễn Gia Lân ra khiêng ông Tấn về thẳng bốt Ngãi Cầu. Chúng đuổi ông Ngôn và ông Ôn về. Ông Lân khi đó đang ở nhà ông Thương tại xóm Trại để ngủ vì sáng hôm sau cả hai ông còn đi đánh dủi (đánh cá) sớm. Thấy ông Lân vẫn còn ngái ngủ, lúi húi xỏ cái quần dải rút mãi chưa xong, một tên hương dũng xông vào đánh ông Lân ngay giữa sân nhà ông Thương. Rồi chúng bắt hai ông Lân và Thương khiêng ông chủ tịch Tấn lên bốt. Cùng lúc đó, lực lượng hương dũng cả 4 bốt trong xã đã túa đi khắp nơi để lùng bắt các đồng chí của ông trên đường đến tham gia cuộc họp.

Do một tên phản bội là người trong làng chỉ điểm, nên bọn hương dũng ở bốt Ngãi Cầu và mật thám của bốt Thanh Quang đã nắm được hết các chi tiết về ngày, giờ, địa điểm cũng như thành phần tham gia cuộc họp. Cơ sở nhà bà Hựu bị lộ hoàn toàn. Chúng lên kế hoạch chi tiết, bố trí 3 tốp hương dũng mai phục ông Tấn cả ở cổng chính và cổng sau nhà bà Hựu. Đoạn ngõ ở xóm Đông hướng rẽ về cổng chính nhà bà Hựu lúc này đã có năm tên lính hương dũng mai phục. Ở hướng từ phía nam rẽ về cổng chính là một nhóm khác, nhóm còn lại chốt ở cổng sau.

Sau khi bắt được ông Tấn, lập tức chúng huy động tối đa lực lượng lính hương dũng của các bốt trong xã cùng bọn mật thám bốt Thanh Quang chỉ điểm sục vào những gia đình bị nghi ngờ che giấu cán bộ để bắt cho bằng được các đồng chí còn lại. Chúng đã lần lượt vào lùng soát trong nhà các cụ Miều, cụ Vận, cụ Cán, cụ Bào, cụ Mai, cụ Thực, cụ Tình... nhưng kết quả chúng không bắt được ai.

Khiêng ông Tấn về đến cổng bốt, tên Quản Hán và bọn lính bốt reo lên:

- Bắt được thằng Tấn rồi đây này!

Từ trên cái lô cốt hình vuông, tên Đức là sếp bốt chạy xuống hỏi:

- Đứa nào bắt được thằng Tấn?

Một tên hương dũng giơ cao tay:

- Tôi bắt, tôi bắt đây!

Sếp Đức ra lệnh cho hắn:

- Mày bắn hai phát súng gọi sếp bốt Thanh Quang sang đây ngay.

Hắn bắn liền hai phát súng chỉ thiên làm ám hiệu gọi bốt Thanh Quang. Chúng khiêng ông Tấn vào bốt, đặt ông nằm lên sàn, máu ra loang lổ. Giở cái túi dết của ông ra, thấy bên trong chỉ còn lại có cân đường và một hộp sữa, khi đó ông vẫn đang bị ốm chưa khỏi.

Một lát sau, tên Đội người Pháp đi cùng một tên cai già với đám lính hộ vệ từ bốt Thanh Quang sang đến nơi. Tên cai già hỏi sếp Đức:

- Thằng Tấn đâu?

- Nó trong kia.

- Anh nào bắt được thằng Tấn đây?

Tên Quản Hán gọi tên hương dũng lại gần, chỉ vào hắn nói:

- Là anh này.

Tên cai già ở bốt Thanh Quang rút một túi vải nhỏ quẳng về phía hắn:

- Đây, thưởng riêng cho chú một vạn đồng Đông Dương1 (Vào thời điểm đó 1.000 tiền Đông Dương mua được 500 ki-lô-gam gạo)!

Bọn hắn cùng tên thầy Đội người Pháp bước thẳng vào trong bốt. Ông Tấn vẫn đang nằm trên sàn, máu ra nhiều. Tên quan Pháp ngồi phịch xuống ghế. Người thông ngôn đi cùng xì xồ vài tiếng với hắn rồi mở cái cặp ra đưa cho tên quan Pháp mấy tờ tài liệu. Đọc lướt qua, tên quan Pháp biết là đã bắt được một cán bộ Việt Minh trong cơ quan đầu não chỉ huy kháng chiến của Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng; một trong năm huyện ủy viên từ lâu đã bị đặt trong tầm ngắm của chúng.

Hắn ra hiệu cho tên cai già gần đấy. Tên này xắn cao ống tay áo, bước lại gần rồi cúi xuống hỏi ông Tấn vẫn đang nằm trên sàn:

- Tấn, mày về với ai?

- Mình tao!

- Bố láo, mày về cùng thằng nào?

- Tao không thèm nói với mày!

Tên cai già liền tát vào mặt ông Tấn rồi đứng phắt lên. Cùng lúc đó, mấy người được gọi lên để băng bó cho ông Tấn cũng vừa tới nơi. Đó là ông Chu Công Mão, bị bọn tề ngụy bắt đi làm y tá cứu thương, ông Mão vốn cũng có họ hàng bà con với ông Tấn, nhưng vì xung quanh là cả một đám những tên ác ôn đang say máu, ông Mão chỉ còn biết cố nuốt cho nước mắt chảy ngược vào trong, ông Mão cúi xuống băng bó cho ông Tấn rồi hỏi:

- Anh có đau lắm không?

- Có! Đau lắm. Khéo tôi chết mất.

- Cố gắng lên anh...

Ông Tấn lặng người đi không nói thêm được gì. Ông Mão băng bó được một lúc thì tên cai già lại gần kéo ông Mão đứng lên, nói với ông:

- Mày và hai thằng đang ngồi kia, đi ra ngoài!

Hai người vừa khiêng ông Tấn từ xóm Trại lên bốt Ngãi Cầu là ông Thương và ông Lân vẫn ngồi bệt xuống đất, tựa lưng vào tường ngồi xem ông Mão băng bó. Nghe tên cai già ra lệnh, hai ông cùng ông Mão bước ra ngoài. Ông Tấn nói với theo ông Mão:

- Mão với các chú về nhé...

Ba người vừa ra đến cửa, tên chỉ huy nói vọng ra với bọn lính gác:

- Chúng mày giữ mấy đứa chúng nó ở lại ngoài sân, không cho về vội. Khi nào tao bảo mới được cho về, rõ chưa!

Hắn nói thêm:

- Bảo phó Dần đi gọi ngay thằng Nghĩa anh thằng Tấn đến đây.

Ở trong bốt, chúng dựng ông Tấn ngồi lên cái ghế tựa, trói hai tay ông quặt ra sau. Tên sếp Đức lại gần, ngọt nhạt nói:

- Tấn, mày nghe tao nói, mày về với ai thì cứ nói tao biết.

- Tao về mình tao!

Tên cai già xông đến cầm tóc ông Tấn, vật ngửa đầu ông lên, gằn giọng hỏi tiếp:

- Mình mày về thôi à, còn mấy thằng kia đâu?

- Tao không bao giờ khai với lũ chúng mày!

Tên cai già đấm thẳng vào mặt ông Tấn nói:

- Mẹ mày, không được báo thì sao tao biết mày về cùng mấy thằng kia?

Ở ngoài sân, mấy tên thám báo từ các bốt khác gọi sếp Đức ra báo cáo:

- Bọn em đã cho vây chặt tất cả các lối về Sông rồi.

- Có vậy thôi hả?

- Đã vào mấy nhà sếp hướng dẫn rồi, chỉ thấy toàn ông bà già với con nít thôi.

- Đã soi kỹ xem tài liệu thằng Tấn giấu ở đâu chưa?

- Chỉ thấy cân đường với một hộp sữa nó mang theo, còn thì chả thấy gì cả.

Tên sếp Đức vào lại vào trong bốt, đóng rầm cánh cửa. Hắn nhìn tên cai già, lắc đầu. Tên cai già rút cây roi đay, vụt liên tiếp vào người ông Tấn.

- Mấy thằng kia đang nằm ở hầm nào, nói!

Cái áo nâu ông Tấn mặc bằng vải gụ do phải nằm dưới hầm ẩm thấp lâu ngày nên chỉ sau một loạt roi đã bắt đầu rách.

Hùa theo quan thầy, một tên hương dũng cũng xông vào đánh:

- Tài liệu và cả súng mày giàu ở đâu hay vứt đi rồi hả?

Ông Tấn nhất định không chịu khai. Đánh xong một hồi, chiếc áo nâu ông mặc rách tả tơi, máu từ vết thương lại chảy tuôn ra ướt đẫm chiếc ghế.

- Có nói không?

- Có biết tao cũng không nói cho lũ khốn nạn chúng mày!

Chúng lại lao vào đánh đập ông theo lệnh của tên quan Pháp để moi bằng được lời khai của ông. Nhưng tất cả những gì ông nói chỉ là:

"Tao không thèm nói với lũ chúng mày!".

Được một lát, tên quan Pháp lên xe cam nhông bỏ về Ngãi Cầu.

Ở trong bốt, tên cai già vẫn tiếp tục đánh đập tra tấn ông chủ tịch xã. Chúng tìm mọi từ dụ dỗ ngon ngọt cho đến đánh đập thẳng tay, với hy vọng lấy được lời khai của ông Tấn hòng quơ một mẻ thật lớn để báo công với bọn quan thầy người Pháp ở bốt Thanh Quang.

Tên Phó Dần nãy giờ vẫn chưa tìm được ông Nghĩa, anh trai ông Tấn. Hắn về bốt, rồi lại gần ông Tấn ngọt nhạt:

- Tấn, mày có một con giai rồi phải không? Mày biết tí gì về mấy thằng về cùng thì nói riêng tao biết. Xong rồi chúng tao cho mày về Hà Đông với vợ con mày.

- Tao chẳng có gì để nói, tao có cái mạng này thôi!

Tên quan Pháp vừa đi khỏi một lát thì một tên hương dũng chạy về đưa cho tên Quản Hàn cái túi xà cột bằng da của ông Tấn mà chúng tìm được gần đống Vuông, bên trong không còn gì. Quản Hàn giơ cái túi ra trước mặt ông Tấn, hắn hỏi:

- Cái gì đây, hả?

Tên cai già bốt Thanh Quang đánh liên tiếp vào người ông:

- Tài liệu mày giấu chỗ nào, nói!

Rồi chúng lại xông vào đánh đập ông như một bầy chó săn đang tranh nhau cắn xé con mồi...

Đến hai giờ đêm, khi ông giáo Mão và hai người phu ở xóm Trại đứng ngoài bốt nghe thấy chuông đồng hồ điểm hai tiếng boong boong, họ thấy trong bốt yên ắng dần, những tiếng láo nháo gần như tắt hẳn. Được một lúc thì cửa bốt mở ra. Một tên hương dũng bước ra nói:

"Thôi, cho chúng mày về!".

Các ông lại gần cửa bốt nhìn vào trong thì thấy ông Tấn nằm bất động trên sàn, cả một vũng máu loang ra ướt sẫm bộ quần áo nâu đã bị đánh đến rách tơi tả. Bị ốm chưa khỏi, rồi bị tra đánh đập tấn đến tận nửa đêm, mất nhiều máu, ông đã vĩnh viễn ra đi vào 2 giờ sáng ngày 10 tháng 8 năm 1951 tức mùng 8 tháng 7 năm Tân Mão1 (Theo lời kể của những nhân chứng khi xảy ra sự việc, có bổ sung tư liệu trong bản chép tay "Nhớ lại và suy nghĩ" của các ông Chu Công Thau và Chu Danh Bích).

Sáng hôm sau, khi trời còn chưa rạng, bà Bùi Thị Kim, một giao liên cốt cán của ông Tấn ra tận nơi ông bị phục kích để xem lại hiện trường. Tổ du kích do bà Kim phụ trách đem theo quang gánh giả làm người đi bán mạ non từ sớm, mỗi người một hướng đi quan sát hiện trường.

Đến bờ chuôm nhìn thẳng ra đống Vuông, bà Kim Sàng thấy ngoi lên cái gì nhìn như cái chuôi của khẩu súng lục. Bà lấy tay vục xuống đất bùn, móc lên được một khẩu súng lục với bao súng bằng da mà ông Tấn đã vùi lại bên bờ chuôm từ đêm hôm trước. Bà rút lõi súng ra thì đã thấy hết sạch đạn. Bà vội vùi khẩu súng xuống bờ chuôm rồi lấy chân đạp nó ngập sâu xuống bùn, lấy đất phủ lên giấu đi. Trong lúc cố chiến đấu vượt vòng vây, bị thương, súng lại hết đạn, ông vẫn cố gắng giấu đi khẩu súng lục để bảo vệ vũ khí cho cách mạng, không để súng bị rơi vào tay kẻ địch.

Tổ du kích của bà Kim ỏ dưới ruộng, giả tiếng người gọi nhau đi cấy làm ám hiệu, gọi bà ra gần đống Vuông. Tại đây, bà phát hiện thấy cả một vũng máu to loang rộng từ bờ ngang sang cả vệ lúa đang cấy. Trước đó, lần theo vết máu, tổ du kích đã moi lên từ dưới bùn xấp tài liệu mà ông Tấn đã xé nát rồi vùi xuống. Cầm xấp giấy nát trộn bùn trên tay, bà Kim vội vùi thật sâu xuống ruộng rồi lấy chân lấp bùn lên, lấy mấy nhánh mạ cấy xuống rồi đạp nát để ngụy trang, chôn vùi vĩnh viễn tên tuổi, danh sách, vị trí của các cán bộ du kích nằm vùng cùng những hầm bí mật trong xã.

Trên con đường đất nằm sát vệ làng, bà nghe dân làng bị bắt đi phu gánh gạch xây bốt đang láo nháo gọi nhau ra cửa Quán Ngãi Cầu xem chúng dựng xác ông Tấn ở đó, bà xách vội đôi quang gánh rồi chạy ra xem.

Sáng hôm đó, chúng đã dựng xác ông Tấn vào vệ rặng ngay nơi cổng chợ. Chợ khi đó được chúng gom lại, rào kín, chỉ có duy nhất một lối ra vào ở cửa Quán. Chiếc áo nâu ông mặc bị đánh rách nát đến tơi tả. Chúng trói dang ngang hai tay ông ra bằng cái khăn dài vải len. Dân làng sáng hôm đấy bị bắt đi gánh gạch xây bốt qua lại rất đông. Đến gần trưa, tên chỉ huy lại gần nơi dựng xác ông, người nào lại gần để xem là hắn túm lại rồi hỏi:

- Mày biết thằng nào đây không?

Ai nói "đó là Chủ tịch Tấn" thì hắn cho đi. Ai nói "không biết" thì hắn lấy roi quất tới tấp vào người đó. Đánh xong, hắn quát:

- Mẹ mày! Thằng Tấn đây mà mày không biết hả!

Hắn vừa nói lại vừa lấy roi quật vào xác ông Tấn.

Đến trưa, ông Nghĩa ra xin bọn chúng cho ông mang xác em trai về chôn cất. Viện cớ phải đợi ông quan Ba về để khám nghiệm tử thi, chúng không cho ông Nghĩa hạ xác ông Tấn xuống đem chôn, mặc cho ông khóc lóc van xin. Đến khoảng 3 giờ chiều, ông Chu Trí Nghĩa và gia đình ra nài nỉ van xin chúng mới cho hạ xác ông xuống, nhưng vẫn đắp chiếu để ở vệ rặng chứ không cho ông Nghĩa đem về chôn cất ngay. Đứng cạnh xác ông Tấn, tên phó lý nói: "Nghĩa, cho tao xin cái đầu thằng Tấn treo lên cổng chợ!".

Ông Nghĩa van xin, rồi vội vã chạy về qua nhà hàng xóm vay tạm mấy con gà mang ra biếu thì hắn mới cho qua. Đến 5 giờ chiều, rốt cuộc chúng cũng để cho ông Nghĩa đưa xác ông Tấn vào áo quan mang ra đồng chôn cất. Chiếc áo quan được thợ mộc mang gỗ ra đóng ngay cạnh xác ông Tấn cho vừa với khổ người cao lớn của ông.

Trời chạng vạng, mặc cho bọn hương dũng lởn vởn trên vệ đường cái, người dân xóm Chợ khiêng ông ra đồng khá đông. Đoàn người tiễn đưa ông đi lặng lẽ, ánh trời chiều từ phía đê Thanh Quang đổ ập về héo hắt. Trên vệ đường cái, nhiều người dân nhìn theo đoàn người đang khiêng ông ra đồng rồi ngả nón chào ông lần cuối, xung quanh là mấy tên hương dũng. Bộ quần áo nâu của ông bị đánh rách tơi tả đã được thay bằng bộ quần áo khâm liệm mới may xong, vải mua ở làng La Phù.

Cho đến tận khi đưa ông vào áo quan, mắt ông đã nhắm lại như bao giấc ngủ vĩnh hằng khác vẫn phải đến với mỗi con người. Những người khâm liệm đưa ông vào áo quan lại thấy miệng ông cười, hàm răng trắng đều tăm tắp của một người thanh niên mới 26 tuổi, ông ra đi mà miệng vẫn cười cho niềm tin vào ngày chiến thắng. Nơi ông an nghỉ nằm ở rìa khu trại ra đến sát vệ làng. Nơi ấy khi xưa chính là phần đất ruộng rộng 1,3 mẫu mà ông Tấn đem đổi để cùng vợ dọn ra dựng căn nhà lá trên miếng đất bên vệ đường cái; rồi mở hiệu may để tham gia hoạt động cách mạng những ngày tiền khởi nghĩa 19 tháng 8. Khu trại này sau đó vẫn được dân làng gọi là "Trại ông Tấn".

Suốt cả ngày hôm đó, lính hương dũng đi sục sạo tìm kiếm từ xóm Đông ra tận cánh đồng nơi ông bị bắn nhưng không tìm thấy tài liệu gì của ông. Xấp tài liệu ông mang theo với đầy đủ tên và bí danh các đồng chí hoạt động nằm vùng trong xã cùng với khẩu súng lục ông bắn đến viên đạn cuối cùng đã được ông giấu đi an toàn. Sự hy sinh của ông là một mất mát không thể bù đắp của phong trào kháng chiến Liên xã An Khánh và An Thượng. Đến tận lúc chết, ông vẫn quyết không khai lấy một lời, bảo vệ an toàn trọn vẹn cho các anh em đồng chí của ông. Trong đêm đó cho đến tận ngày hôm sau, chỉ có một mình ông Tấn bị bắt, các cơ sở ít ỏi còn lại trong xã cùng nhiều hầm bí mật chưa bị phát hiện vẫn được bảo toàn nguyên vẹn.

Ông hy sinh, để lại người vợ và cậu con trai Chu Trí Thắng mới 2 tuổi. Lịch sử lại một lần nữa lặp lại: ông mồ côi cha năm 2 tuổi khi còn chưa rõ mặt người cha đẻ ra mình, nay lại đến lượt con trai ông rơi vào cái vòng xoáy định mệnh đó. Từ đấy, vợ ông một mình thủ tiết thờ chồng nuôi con cho tới khi bà đột ngột qua đời năm 1988.

Tháng 6 năm 1952, được một tên đầu hàng làm chỉ điểm báo tin, lính hương dũng đi thuốn hầm ngoài đồng phát hiện được một căn hầm bỏ hoang ở gần đống Mả Dược nằm trên cánh đồng Giữa, lấy được một khẩu súng trường đã gỉ sét. Đây được cho là căn hầm mà ông Tấn định chạy ra ẩn nấp trong lúc bị truy đuổi, nhưng do bị thương kiệt sức nên ông bị bắt gần đống Vuông. Sau ngày giải phóng, khoảng năm 1955, một người dân đi cày ở xóm Đông tìm thấy khẩu súng lục đã hết đạn. Khẩu súng này đã được đem lên trưng bày tại Phòng truyền thống của xã An Khánh, một thời gian thì bị thất lạc.

Ngày 15 tháng 6 năm 1954, bộ đội huyện cùng du kích xã đánh diệt bốt Ngãi Cầu. Bộ đội cho nổ một quả bộc phá cực mạnh, xé tan cái lô cốt đầy rẫy những tội ác phản động này. Cùng thời gian, lính Pháp và Âu - Phi rút về tập kết tạm thời ở thị xã Hà Đông để chuẩn bị rút khỏi miền Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ đã ký kết. Cuối tháng 7, ta bức hàng đồn Thanh Quang, 150 lính ngụy ra hàng cùng toàn bộ vũ khí. Lá cờ ba vạch bị hạ xuống vĩnh viễn, thay vào đó là lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong nắng hè. Làng quê nơi ông chủ tịch Tấn sinh ra và lón lên nay đã sạch bóng quân thù!

Nơi địch dựng xác ông tại Cửa Quán cạnh Tam quan chùa Phổ Quang chính là nơi ông đã đứng canh gác cho lá cờ đỏ búa liềm của Mặt trận Việt Minh lần đầu tiên tung bay tại Ngãi Cầu ngay giữa phiên chợ một ngày mùa thu năm 1942. Đây cũng là nơi Lê Lợi và Nguyễn Trãi hạ trại, đóng quân (bên dòng Giang xưa - sông Đáy ngày nay), tạo thành mũi tiến quân bao vây Thăng Long đánh tan quân Minh ngày 10 tháng 10 năm Bính Ngọ (1426).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn