Liệt sĩ Chu Trí Tấn phần V - Đại đội 36 liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng
Tháng 4 năm 1949, ông Tấn được huyện giao nhiệm vụ cùng đồng chí xã đội trưởng dẫn đầu một số anh em du kích xuất sắc của xã và bộ đội địa phương sang vùng tự do bên tả ngạn sông Hồng tham dự Đại hội dân quân du kích toàn huyện để chính thức thành lập một đơn vị bộ đội địa phương đầu tiên của huyện, đặt phiên hiệu là Đại đội 36 Liên Bắc. Ông Chu Công Thau, ông Chu Danh Bích, ông Trần Thọ Châu và nhiều đồng chí khác đã đi cùng ông Tấn trong chuyên hành trình dài tới 120km đường chim bay cả đi
Tháng 4 năm 1949, ông Tấn được huyện giao nhiệm vụ cùng đồng chí xã đội trưởng dẫn đầu một số anh em du kích xuất sắc của xã và bộ đội địa phương sang vùng tự do bên tả ngạn sông Hồng tham dự Đại hội dân quân du kích toàn huyện để chính thức thành lập một đơn vị bộ đội địa phương đầu tiên của huyện, đặt phiên hiệu là Đại đội 36 Liên Bắc. Ông Chu Công Thau, ông Chu Danh Bích, ông Trần Thọ Châu và nhiều đồng chí khác đã đi cùng ông Tấn trong chuyên hành trình dài tới 120km đường chim bay cả đi và về lần đó. Trước ngày lên đường, ông nói với vợ: "Anh đi công tác mãi bên tả ngạn sông Hồng, có khi đến vụ khoai mới về". Vì cần giữ bí mật công việc nên khi vợ ông gặng hỏi đi xã nào ông đều không nói.
Đây là cuộc hành quân lâu nhất và dài nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông. Những trận ông và anh em đi quấy bốt Phùng, bốt Trôi, bốt Lai Xá, hay sang vùng tự do Hòa Bình học khóa quân sự - chính trị ngắn ngày tuy có nằm xa địa bàn xã An Khánh nhưng cũng không xa bằng chuyến đi trên 100km lên Phúc Yên lần này. Những ngày trước đây, ông từ Quốc Oai sang Hòa Bình, vợ ông vẫn theo sang để lo cơm nước cho ông nhưng lần này, ông không thể để vợ đi theo được.
Giặc đã chiếm được Sơn Tây, nếu đi vòng qua Hòa Bình, Phú Thọ thì an toàn nhưng sẽ rất xa, không thể đến kịp ngày dự Đại hội. Chỉ còn cách luồn thẳng qua vùng địch kiểm soát, lấy điểm tập kết là bến đò Liên Trì mà thẳng tiến.
Lấy đêm làm ngày, bí mật luồn lách ngay trong lòng địch mà vẫn phải đảm bảo hành quân thần tốc cho kịp ngày khai mạc đại hội. Sẩm tối ăn vội nắm cơm xong là lại lên đường. Ban ngày ngủ lại trong hầm bí mật của những gia đình cơ sở do huyện sắp đặt, nhiều lần phải rúc ngoài bãi trên đồng để ngủ, tránh địch đi càn. Các ông phải tìm cách vượt qua đường 11A (nay là đường 32 Hà Nội - Sơn Tây), khi đó địch đã kiểm soát rất gắt gao để nối thông mạch tiếp tế cho thị xã Sơn Tây mà chúng vừa đánh chiếm được. Được bà con cơ sở thôn Nội xã Đức Thượng chỉ dẫn và che chở, các ông tìm được điểm cắt ngang an toàn là những bãi ngô bãi mía rậm rạp ở hai bên đường. Trong một đêm tối trời mù mịt đứng cách nhau vài bước chân mà còn không nhìn rõ mặt người, ông dẫn anh em du kích băng qua đường 11A, lủi nhanh vào bãi ngô, rồi thẳng tiến về hướng Tân Hội.
Đến được bờ sông Hồng tại bến đò Liên Trì, các ông bí mật tập kết bằng thuyền nan của cơ sở cung cấp. Vừa chèo được mấy con nước thì thấy tiếng địch gọi nhau từ phía sau lưng. Các ông cho thuyền tấp vội vào bãi nổi ở giữa sông Hồng, lau sậy um tùm. Bãi này được các ông gọi là bãi sậy Kim Cường, bí danh của một đồng chí cán bộ huyện đã hy sinh ở đấy. Thuyền chuẩn bị vào bãi, tất cả súng đều lên đạn, lựu đạn chày đã sẵn sàng nếu có địch phục kích nấp ở trong bãi bắn ra. Rất may bãi này đã được người của ta ém sẵn làm điểm trung chuyển cho cán bộ trong đợt tập kết này. Suốt cả một thời gian dài, bãi sậy trở thành nơi đứng chân, ra vào nội địa của lực lượng kháng chiến Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng. Thuyền vừa tấp vào bờ là anh em mỗi người một tay đưa thuyền đi giấu ở mạn sau bãi. Địch cho xe tải đến lia đèn pha ra bãi nhưng không thấy gì. Chúng quanh quẩn một lát rồi bỏ đi. Anh em ém quân trên bãi đến gần sáng, rồi cử hai đồng chí chèo thuyền lên bờ tả ngạn trước để dẫn đường, vào gặp được người của ta rồi mới đốt lửa ra hiệu cho toàn đội ra khỏi bãi sậy đi thuyền đến địa điểm dự họp an toàn.
Cuộc hội quân chuẩn bị cho Đại hội dân quân toàn huyện diễn ra tại rừng Sặt, làng Thái Lai, tỉnh Phúc Yên. Trên 500 du kích, bộ đội, cán bộ, đảng viên và 2000 đại biểu nhân dân trong huyện đã vượt qua sông Hồng, tập trung sang vùng tự do Vĩnh Phúc mở Đại hội làm lễ ra mắt Đại đội 36.
Tuy có một số mất mát hy sinh trên đường hành quân, nhất là khu vực quanh bãi sậy Kim Cường khi bị địch truy kích, nhưng việc một lực lượng lớn cán bộ du kích từ trong vùng địch kiểm soát luồn ra được tả ngạn sông Hồng để tập trung đông đến như vậy đã là một cố gắng không nhỏ của ta.
Nếu không có nhân dân đùm bọc che chở, không có sự nhất quán về ý chí của người lãnh đạo từ trên huyện xuống các tổ Đảng từng thôn, sẽ không thể có ngày hội quân đông đảo với khí thế hùng hậu như vậy.
Ngoài khóa học được đặt tên là lớp Trần Phú để nâng cao tư tưởng chính trị ngắn hạn cho cán bộ, huyện đội cũng tổ chức diễn tập, giao lưu quân sự giữa du kích các xã với bộ đội. Tổ chức diễn tập chống càn theo đội hình "cuốn chiếu" để chống lại chiến thuật thọc sâu đánh vu hồi bằng cơ giới của địch. Tuy trong hoàn cảnh khó khăn nhưng lễ thành lập Đại đội 36 bộ đội liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng vẫn được tổ chức trang trọng.
Đồng chí Lê Thao được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 36, chọn ra những dân quân, du kích xuất sắc nhất thành lập ba trung đội (gồm 9 tiểu đội). Xã Ngãi Cầu vinh dự được đóng góp hai trong số ba trung đội trưởng của Đại đội 36 là ông Chu Công Thau và Chu Danh Bích.
Khi trở về vùng tạm chiếm, dự kiến mỗi trung đội sẽ đóng trên địa bàn một số xã như Tân Hội, Trung Kiên, Phương Sơn, Đại La, Liên xã An Khánh - An Thượng...
Sau lễ thành lập, Đại đội 36 Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng được trang bị thêm đạn dược và lựu đạn tự chế để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ mới. Việc thành lập Đại đội xuất phát từ đường lối chiến tranh nhân dân của Mặt trận Việt Minh: cần phải có ba thứ quân là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.
Đến cuối năm 1949, Đại đội 36 từ lúc chỉ có 124 chiến sĩ, biên chế thành 3 trung đội, du kích tập trung của các xã đã tăng lên đến 2.196 chiến sĩ biên chế thành 21 tiểu đội hoạt động, chiến đấu trong phạm vi Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng.
Với riêng ông Chu Trí Tấn, điều làm ông và anh em du kích xã đi theo bất ngờ trong dịp này không chỉ là ở mức độ tập trung đông đảo với các loại vũ khí mới được trưng bày và hướng dẫn cách sử dụng, tháo lắp đạn... mà còn là ở sự xuất hiện của chính người vợ thân yêu của ông.
Biết ông phải đi công tác xa, sợ không có người lo cơm nước đến nơi đến chôn, bà gặng hỏi mãi, một đồng chí của ông mới cho bà biết ông phải hành quân đi họp ở Phúc Yên.
Không quản ngại đường xa, bà đã mang theo đôi quang gánh chất đầy võng đay (Ngãi Cầu thời đó vẫn còn nghề đan võng đay), luồn qua nhiều vùng địch kiểm soát gắt gao mới đến được Phúc Yên.
Tại đây, trong suốt thời gian hơn một tháng diễn ra Đại hội, bà vào làm thuê trong làng gốm Hương Canh, chiều lại mang theo đôi quang gánh đi nhờ xe bò về làng Thái Lai, nơi ông học để cơm nước cho ông ăn.
Bà đã "cầm" cả chiếc nhẫn hồi môn hai đồng cân vàng, lấy tiền nuôi ông đi học những ngày ở Phúc Yên.
Đến khi kết thúc khóa học, ông Tấn và anh em trở về xã, bà vẫn ở lại làm thuê cho lò gốm ở Hương Canh một thời gian để chuộc lại chiếc nhẫn và có thêm ít tiền để về vùng tự do Hòa Bình.
Chỉ ít ngày ngay sau khi bà về quê chăm sóc chồng và em trai hoạt động cách mạng, tháng 8 năm 1949, địch chiếm Phúc Yên, Vinh Yên.
Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng hoàn toàn nằm trong vòng vây của giặc.
Sau khi thành lập Đại đội 36, anh em đại đội cùng du kích Liên xã An Khánh - An Thượng đã lập chiến công trong trận đầu ra quân đánh giặc.
Cuối tháng 6 năm 1949, du kích Liên xã An Khánh - An Thượng do ông Chu Trí Tấn chỉ huy phối hợp với du kích xã Đại La và xã Hữu Hưng cùng Trung đội 1 của Đại đội 36 (do đồng chí Thau làm Trung đội trường) chống lại cuộc càn quét đông tới hơn một tiểu đoàn của địch tại thôn Tây Mỗ, giành thắng lợi vang dội. Mìn, lựu đạn nổ rền suốt từ sáng sớm khi chúng vừa đặt chân tới cho đến tận chiều tối. Nhiều xe cam-nhông của địch bị phá hủy.
Địch phải dùng đến cả bao tải đựng xác đồng bọn mà không xuể. Chúng phải đem xăng thui cháy xác đồng bọn rồi bỏ lại địa phương.
Đây là một trong số các trận đánh mà Chu Trí Tấn chỉ huy và điều động du kích tham chiến ở khu vực ngoài địa bàn Liên xã An Khánh - An Thượng.
Sau trận đánh này, ông Chu Công Thau vinh dự được kết nạp Đảng vào ngày 30 tháng 8 năm 1949.



