Liệt sĩ Đỗ Quốc Phong: Người lái đò cảm tử trên sông Ba Lòng
Liệt sĩ Đỗ Quốc Phong: Người lái đò cảm tử trên sông Ba Lòng
Ở căn nhà nhỏ yên bình giữa lòng Hà Nội, ông Đỗ Quốc Phong, nguyên Chủ tịch Hội Cựu thanh niên xung phong TP.Hà Nội, vẫn giữ trọn ký ức về những năm tháng lái đò trên sông Ba Lòng, dòng thượng nguồn của sông Thạch Hãn tại Quảng Trị. Năm 1965, chàng thư sinh 18 tuổi đã gác lại giấc mơ đại học để tham gia Đội thanh niên xung phong K53, đi vào chiến trường miền Nam.
Khi đặt chân đến Hà Tĩnh, ông đã tận mắt chứng kiến cảnh máy bay Mỹ ném bom vào trường mẫu giáo, khiến nhiều đứa trẻ vô tội ngã xuống, máu nhuộm đỏ trang sách và sân trường. Cảnh ấy đã thổi bùng lên ngọn lửa căm hờn tột độ, biến thành quyết tâm sắt đá chiến đấu cho quê hương và đồng bào.
Sau hành trình dài vào Đò Lèn (Thanh Hóa) rồi hành quân bộ dọc theo dải đất miền Trung, đơn vị của ông đóng tại phân khu Trị Thiên-Huế, làm trinh sát và bảo vệ hành lang giao thông tại khu vực đường 9. Nhiệm vụ đặc biệt nhất là thời gian lái đò trên sông Ba Lòng, điểm nút giao thông huyết mạch để vận chuyển quân, lương thực và đạn dược từ Bắc vào Nam, cũng là nơi bị tập trung đánh phá ác liệt nhất.
Hàng đêm, ông chèo độc mộc chở 6-7 người qua dòng nước xiết, đáy sông đầy đá ngầm. Khi thấy lượng hàng và quân số tăng lên, ông đã phối hợp với du kích địa phương làm một con đò lớn dài 8-10m, đủ sức chở một trung đội khoảng 30 người. Sau hơn 2 tháng trời ròng rã làm đò, ông phải tập luyện chèo đò suốt một tháng mới dám chở quân.
Mỗi đêm từ 5 giờ chiều đến 3-4 giờ sáng hôm sau, ông chèo đò qua sông, có những đêm chở quân vào rồi lại chở thương binh ra. Máu và nước mắt hòa vào dòng sông lạnh buốt. Khi máy bay địch thả pháo sáng, cả người và đò phải bất động, lợi dụng bóng tối và dòng chảy để ngụy trang. Chỉ cần một tiếng động mạnh hay một ánh lửa lóe lên, bom đạn sẽ trút xuống ngay lập tức.
Ông đã nhiều lần chết hụt nhưng may mắn thoát nạn. Một lần, quả bom rơi trúng hầm trú ẩn của đơn vị, các đồng đội hy sinh tại chỗ, thi thể không còn nguyên vẹn. Lúc ấy, ông không còn biết sợ là gì nữa, chỉ thấy đau xót và càng thêm quyết tâm trả thù cho anh em. Hiện nay, ông vẫn thường chia sẻ với thế hệ trẻ về những kỷ niệm đó, nhắc nhở mọi người trân trọng hòa bình mà thế hệ hiện tại đang có.
Liệt sĩ Đoàn Sinh Hưởng: Hậu duệ nhà binh viết nên bản hùng ca
Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, sinh năm 1949 ở phường Bình Ngọc, TP Móng Cái, Quảng Ninh, là hậu duệ của Đốc tướng Đoàn Nhữ Hài, một danh thần nổi tiếng dưới triều vua Trần Anh Tông. Từ nhỏ, ông đã có khát khao vào quân ngũ, mặc dù chưa đủ chiều cao và cân nặng để đi bộ đội, nhưng cậu bé Hưởng đã xin thế chân để được nhập ngũ.
Năm 1966, ông tạm biệt gia đình lên đường nhập ngũ. Năm 1968, khi mới 19 tuổi, ông được phong Dũng sĩ diệt Mỹ và được kết nạp Đảng ngay tại trận địa trong chiến dịch Mậu Thân. Lúc đó, ông là Tiểu đội trưởng kiêm Trung đội phó Đại đội Cối 82 ly thuộc Trung đoàn 88. Sau đó, ông vào Tây Nguyên, làm Đại đội trưởng Đại đội 9 Trung đoàn xe tăng 273, chỉ huy Đại đội Tăng đánh trận nổi tiếng trên đường số 14, giải phóng Buôn Mê Thuột, tiến quân xuống giải phóng tiếp Phú Yên.
Sau khi giải phóng Phú Yên, Đại đội xe tăng do ông chỉ huy đã hành quân vào Sài Gòn, đánh trại Quang Trung tại ngã tư Bảy Hiền, đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu Ngụy. Năm 1975, sau khi miền Nam được giải phóng, Thiếu uý Đoàn Sinh Hưởng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong những năm giữ chức Tư lệnh Quân khu 4, ông đã phối hợp với nước bạn Lào diệt phỉ, góp phần tạo lập hành lang biên giới ổn định. Ông cũng là Chủ tịch Quỹ “Mãi mãi tuổi 20”, hỗ trợ cựu chiến binh có hoàn cảnh khó khăn. Ông thường chia sẻ: “Hòa bình không phải là thứ có sẵn, nó là kết quả của bao nhiêu máu xương, bao nhiêu tuổi trẻ đã ngã xuống. Thế hệ trẻ hôm nay cần hiểu rằng, yêu nước không chỉ là cầm súng chiến đấu, mà còn là học tập, lao động, sáng tạo để đưa đất nước tiến lên”.
Liệt sĩ Bành Văn Còn (Nguyễn An Đông): Chiến sĩ tình báo âm thầm cống hiến
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng, có những người đã cống hiến một cách thầm lặng, không ồn ào nhưng đóng góp quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của đất nước. Và ông Bành Văn Còn, còn gọi là Nguyễn An Đông hay Hai Đông, sinh năm 1923, là một con người như thế.
Nguyễn An Đông sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước sâu sắc, ngôi nhà của gia đình ông từng là một “địa chỉ đỏ” nuôi giấu và bảo vệ những người bộ đội chìm hoạt động bí mật giữa lòng đô thị. Chính môi trường ấy đã sớm hun đúc trong ông lòng yêu nước và tinh thần cách mạng. Khi đất nước bước vào những năm tháng chiến tranh ác liệt, ông đã trực tiếp tham gia hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc, đảm nhiệm nhiệm vụ tình báo - công việc đặc biệt nguy hiểm, đòi hỏi sự mưu trí, gan dạ và tuyệt đối trung thành.
Trong quá trình hoạt động, ông từng bị địch bắt và giam giữ tại Khám Chí Hòa, một trong những nhà tù khét tiếng thời bấy giờ. Những ngày tháng trong tù không làm ông khuất phục, trái lại càng tôi luyện thêm ý chí và tinh thần cách mạng. Ngay trong chốn lao tù, ông cùng đồng đội đã sáng tác và đối đáp với nhau những bài thơ đầy cảm xúc, thể hiện niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng.
Khi hoạt động tình báo của ông bị lộ, tổ chức đã chuẩn bị đưa ông ra miền Bắc để tránh sự truy lùng gắt gao, nhưng chưa kịp thực hiện kế hoạch, bi kịch đã xảy ra. Vào ngày 6 tháng 8 năm 1968, khi ông đang di chuyển bằng xe máy trên đường phố Sài Gòn, hai thanh niên áp sát và nổ súng ám sát ông bằng súng giảm thanh. Kẻ địch tạo dựng hiện trường giả nhằm che giấu tội ác, khiến nhiều người lầm tưởng rằng ông gặp tai nạn giao thông. Sau này, khi gia đình và đồng đội tiến hành cải táng, phát hiện thi hài ông vẫn còn nguyên vẹn, sự thật về cái chết của ông mới được làm sáng tỏ.
Ông được an táng trang trọng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Cần Thơ, và được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì chống thực dân Pháp xâm lược và Huân chương Kháng chiến hạng Nhất chống Mỹ cứu nước. Là người cháu trong gia đình, em luôn cảm thấy tự hào và xúc động khi được nghe kể lại cuộc đời cách mạng thầm lặng của ông cả, học được bài học về ý chí kiên cường và trách nhiệm với cộng đồng.
Những câu chuyện thời hoa lửa của các anh hùng liệt sĩ không chỉ là những trang sử hào hùng, mà còn là di sản thiêng liêng mà thế hệ trẻ được trao truyền. Hãy cùng giữ gìn ngọn lửa thời hoa lửa, để những câu chuyện của những anh hùng luôn sống trong từng nhịp đập con tim của người Việt Nam. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các anh hùng khác, tôi có thể chia sẻ những câu chuyện về những người lính tình báo, du kích địa phương hay nhân dân đã góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.



