LIỆT SĨ NGUYỄN HOÀNG GIANG
LIỆT SĨ NGUYỄN HOÀNG GIANG
Tôi quen ông Nguyễn Hoàng Giang vào những năm đầu thập niên 60, khi phong trào cách mạng ở vùng Đông Thành và các địa bàn lân cận đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn. Lúc đó, tôi là một cán bộ cơ sở, thường xuyên liên lạc với lực lượng công an vũ trang và an ninh khu vực. Ông thì đã là trung đội trưởng, công tác trong lực lượng Công an Cửu Long, dáng người cao, rắn rỏi, nói năng chừng mực nhưng ánh mắt lúc nào cũng toát lên sự cương nghị của một người quen sống giữa ranh giới sinh – tử.
Ông sinh năm 1941, quê ở Đông Thành A. Tuổi thơ của ông gắn liền với ruộng đồng, sông nước, nhưng cũng sớm chứng kiến cảnh áp bức, truy lùng, bắt bớ của địch đối với bà con và cán bộ cách mạng. Ông từng kể với tôi rằng, chính hình ảnh người cha bị địch đánh đập vì che giấu cán bộ đã thôi thúc ông sớm tham gia cách mạng. Khi vừa đủ tuổi, ông xin thoát ly gia đình, gia nhập lực lượng an ninh, rồi dần trưởng thành qua từng nhiệm vụ, từng trận đấu trí với kẻ thù.
Trong mắt chúng tôi, ông Giang không phải là người nói nhiều. Ông thường lặng lẽ quan sát, ghi nhớ từng chi tiết nhỏ: con đường nào địch hay phục kích, nhà ai có thể làm cơ sở an toàn, giờ giấc nào chúng thay ca gác. Những gì ông nói ra đều là kết luận sau khi đã suy nghĩ rất kỹ. Tôi nhớ có lần, trong một cuộc họp bàn phương án bảo vệ cơ sở, có người đề xuất đánh mạnh để thị uy. Ông lắc đầu, nói chậm rãi: “Đánh thì dễ, nhưng giữ được dân và giữ được lực lượng mới là khó. Phải tính đường lâu dài.” Câu nói đó theo tôi suốt nhiều năm làm công tác cơ sở.
Là trung đội trưởng, ông trực tiếp chỉ huy nhiều đợt bảo vệ cán bộ, đưa đón tài liệu, và phá vỡ các mạng lưới chỉ điểm của địch. Công việc của ông thầm lặng nhưng vô cùng nguy hiểm. Địch treo thưởng cao cho bất kỳ ai cung cấp thông tin về lực lượng an ninh cách mạng. Vậy mà ông vẫn ung dung đi lại giữa dân, khi thì giả làm người buôn bán nhỏ, lúc lại đóng vai nông dân đi thăm ruộng. Ông bảo tôi: “Muốn địch không biết mình là ai, thì trước hết mình phải là người của dân.”
Năm 1965–1966 là giai đoạn ác liệt nhất. Địch tăng cường đàn áp, lập nhiều ấp chiến lược, truy quét ráo riết lực lượng cách mạng. Trung đội của ông Nguyễn Hoàng Giang lúc đó vừa phải bảo vệ an toàn cho cán bộ cấp trên, vừa tổ chức đánh trả khi cần thiết. Tôi còn nhớ một lần, ông trực tiếp dẫn anh em giải cứu một cơ sở bị lộ. Đêm hôm đó mưa rất to, đường trơn trượt, nhưng ông vẫn kiên quyết đi đầu. Khi chúng tôi hỏi có cần hoãn lại không, ông chỉ nói ngắn gọn: “Chậm một đêm là mất người.” Nhờ sự quyết đoán đó, cơ sở được đưa ra an toàn, dù sau đó ông bị sốt nặng nhiều ngày liền.
Trong sinh hoạt thường ngày, ông sống rất giản dị. Phần ăn của ông không bao giờ hơn anh em. Có khi còn nhường lại cho người khác. Ông ít khi nhắc đến gia đình, nhưng tôi biết ông thương mẹ lắm. Ông từng tâm sự với tôi trong một lần nghỉ ngơi hiếm hoi: “Chỉ mong đất nước yên, để mấy người già không còn phải lo sợ mỗi khi nghe tiếng súng.” Những lời ấy nói ra rất nhẹ, nhưng chất chứa cả một tấm lòng.
Ngày ông hy sinh là một ngày mà tôi không thể quên. Đó là năm 1966, trong một nhiệm vụ bảo vệ cán bộ và tài liệu quan trọng. Địch bất ngờ phục kích khi chúng tôi đang di chuyển qua một khu vực trống trải. Ông nhanh chóng ra lệnh cho anh em phân tán, tìm đường rút, còn mình thì ở lại chặn địch. Tôi lúc đó ở phía sau, chỉ kịp nghe ông hô lớn: “Rút ngay! Bảo toàn lực lượng!” Rồi tiếng súng nổ dồn dập.
Khi chúng tôi quay lại tìm ông thì mọi chuyện đã quá muộn. Ông đã ngã xuống, trên tay vẫn còn nắm chặt khẩu súng. Gương mặt ông lúc ấy rất bình thản, như thể ông đã chuẩn bị sẵn sàng cho giây phút này từ lâu. Anh em chúng tôi lặng người, không ai nói được lời nào. Giữa khói súng và mùi thuốc đạn, tôi cảm nhận rõ ràng sự mất mát to lớn mà đơn vị vừa phải gánh chịu.
Sau này, khi chiến tranh qua đi, mỗi lần nhắc đến ông Nguyễn Hoàng Giang, những người đồng đội cũ như tôi đều chung một cảm xúc: tiếc thương nhưng tự hào. Ông là người đã sống trọn vẹn cho nhiệm vụ, cho nhân dân, không đòi hỏi bất kỳ điều gì cho riêng mình. Sự hy sinh của ông góp phần giữ vững mạng lưới an ninh cách mạng trong những năm tháng cam go nhất.
Giờ đây, mỗi khi trở lại Đông Thành A, tôi vẫn nhớ đến hình ảnh ông Giang với dáng đi nhanh nhẹn, ánh mắt kiên định giữa những ngày đen tối của chiến tranh. Ông đã đi xa, nhưng câu nói của ông năm nào vẫn còn vang vọng trong lòng tôi: “Còn dân tin mình, thì mình còn đứng vững.” Và chính niềm tin ấy đã giúp chúng tôi vượt qua những năm tháng không thể nào quên của một thời bom đạn.


