Liệt Sĩ Nguyễn Thiên Lý (1951-1972)
Trong những năm tháng lửa đạn khốc liệt của dân tộc có một người con quê hương Hưng Yên tên là Nguyễn Thiên Lý (1951-1972) tại một làng nghèo khó ven sông Hồng. Lúc bấy giờ đất nước đang chìm trong bóng tối thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Bà Rậu là người đem lại cho em nhiều câu chuyện lịch sử. Từng lời bà kể, bà nói khiến trong lòng lũ trẻ ở xóm háo hức về thời xưa. Giống như khoe chiến tích mà bà luôn nhắc tới "ông Lý" là người em ruột của bà, mất di gia đình hai chị em nương tựa nhau sống trong những ngày lo sợ mất nước.
Qua lời bà và cô chú kể, "ông Lý" là một người khôi ngô tuấn tú, rất giỏi giang và một lòng yêu nước tha thiết. Lúc còn nhỏ "ông Lý" vẫn thường tự tin và hứa khi lớn sẽ cứu nước khỏi thế nguy, anh muốn góp công để cho đất nước được giải phóng thật sớm. Vì anh muốn hai chị em được sống hạnh phúc bên bếp lửa chứ không phải lo sợ mất nhà, mất tổ ấm. Bà còn nói thêm:" Lúc đấy cơm không có để mà ăn, lâu lâu đào được củ khoai thì chia nhau mà ăn nhưng mà hạnh phúc lắm". Bà vừa nói nước mắt rơi trên gò má đầy nhăn nheo mà thời gian để lại. Bọn trẻ tinh nghịch hỏi cụ:" Vậy còn ông Lý ạ?, lúc đó anh ấy như nào ạ?". Bà dịu dàng kể cho chúng em biết về cuộc sống và hành trình bảo vệ nước nhà của "ông Lý", giọng bà chậm rãi nói những câu khiến cho ai ai cũng ngỡ ngàng.
Bà nói. Ngày đấy nạn đói kéo dài làm bà mò mấp từng con ốc từng con ếch bán kiếm đồng này hay đồng đó chỉ mong hai chị em ấm bụng. Bấy giờ còn nhỏ muốn phụ cho chị nhưng sợ một ngày nào đó sẽ không còn bên chị. Xua tay, người chị vẫn động viên người em:" Học đi sau này hoà bình hai dẫn út đi chơi, đi thăm nước nhé". Bỏ học từ nhỏ để cho người em được cắp sách tới trường. Bà bảo:" thà chịu khổ để nuôi nó lớn sau này nó còn giúp nước nhà, thân con gái cần học hành làm gì". Rơm rớm nước mắt trên đôi mắt đầy mệt mỏi của bà. Sự ấm áp không kéo dài được lâu. Ở đầu ngõ các chú áo xanh tay cầm thư, tay cầm lá cờ gấp vuông. Trên mặt người vui, người khóc trong lòng. Bà nhận được lá thư nhà nước gửi tới. Không biết chữ chỉ biết nhờ người em đọc. Bà bảo lá thư ấy bà vẫn nhớ chúng ghi gì đã khắc sâu vào tim bà đến ngày nay. Chỉ vọn vẻ 20 chữ.
- "Kính gửi đồng chí, nước nhà lâm thế nguy. Kính mời đồng chí khoắc trang phục lên đường cứu nước".
Sự chân, bà không biết nói gì nhưng thầm hiểu nếu thành công là hạnh phúc còn thất bại là mất nước mất người. Ngấn lệ, nửa muốn nửa không. Do dự trong phúc chốc. -"Chị...chị... đất nước gọi tên em, hoà bình đang đợi em nhanh thôi. Chị em ta sẽ được gặp lại nhau thôi"- người em tiếp lời.
Không nhớ rõ, bà chỉ bảo:" Dữ nó thì mất nước mà để nó đi thì mất nó". Không muốn cũng phải chấp nhận. Sau khi tiến người em ra chiến trường hối tiếc cũng không thể nào quay ngược thời gian.
Không lâu sau, lá thư đầu tiên người em gửi về là một tin vui rằng chiến tranh sắp hết cậu út sắp được về. Bà mừng đi khắp làng báo tin vui ấy. Niếm tin rằng người trên mặt trận sẽ trở về trong thân hình lành lặn. Nhớ mong ngày đêm, bà bảo ngày ấy mừng chỉ biết thấp thỏm cổng làng, tay cầm số ốc vai đeo củi chờ mong xem thư khi nào về tới tiếp. Cứ thế qua ngày. Cùng một người bạn thân hoàn cảnh gia đình không khác bà rậu.
Hai bà vẫn luôn hát hò, trải thóc ra sân cùng nhau đợi chờ chiếc xe đạp đưa thư về cuộc vui ấy ngắn ngủi khi lá thư thứ hai về. Người buồn người khóc, bà rậu vẫn hứng hở đợi cầm thư. Bà bảo cầm vào thôi đã thấy nặng trĩu cả lòng. Lá thư ấy chỉ ghi ba chữ nghệch ngoạc "em bình an..." Không kìm chế được chỉ có thể nuốt nước mắt vào trong lòng. Ân hận vì giờ đây người em vui đùa ngày nào giờ đây chỉ còn lại dòng chữ.
Chú bộ đội nhẻ nhàng đưa di vật ra và nói:" kình gửi đồ đạc còn sót lại của đồng chíNguyễn Thiên Lý " Dây phút ấy, chúng ta nhận ra rằng mất người thật rồi. Không có thi thể, không lời trách móc. Không còn được gặp mặt nhau lần cuối. Người đã từ bi nhân dan trả cho sự tự do của bản thân nhưng để lại người phụ nữ gồng gánh những mất mát còn lại. Cái giá của độc lập khó quá cả mạng người cũng không đánh đổi nổi. Trên mặt trận, Ông Lý chiến đấu dũng cảm trong những trận đánh ác liệt ấy. Với khẩu súng trường trên vai. Ông xông pha tiêu diệt kẻ thù và điều gì cũng sẽ đến. Ông nằm xuống mặt đất trên tay vẫn cầm khẩu súng với đôi mắt long lahh nhiệt huyết vì đất nước vì người chị mong ngõng chờ đợi.
Chiến tranh thật khốc liệt kéo dài hàng nghìn năm lấy đi bao sinh mạng, công sức mới có sự hoà bình như ngày hôm nay. " Người cầm súng cho ta cầm bút". Đất nước giải phóng trong niềm hạnh phúc sau chuỗi ngày đánh đuổi. Nhưng sự đau thương ấy vẫn còn mãi trong lòng thế hệ thời này. Vì thế nỗ lực để đất nước thêm giàu mạnh, mỗi người tô thêm màu sắc cho tương lai sau này để phát triển đền đáp công ơn cha ta đã phải đánh đổi.



