Liệt sĩ Nguyễn Văn Khiển

Lịch sử dân tộc ta được dệt nên bằng muôn vàn trang sử vàng son, nhưng có lẽ, không có giai đoạn nào rực cháy và hào hùng đến thế như “Thời hoa lửa” – những năm tháng mà đất nước chìm trong khói bom, đạn lạc, nơi mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau một gang tấc. Đó là một thời kỳ huy hoàng, mà tên gọi “Thời hoa lửa” không chỉ là một cụm từ mỹ miều mà là sự thật nghiệt ngã, khắc nghiệt, nơi mỗi ngày trôi qua đều là một cuộc chiến đấu sinh tồn, một lần đối diện với cái chết để bảo vệ độc lập, tự do. Giữa cái giông bão nghiệt ngã ấy, có một thứ ánh sáng chưa bao giờ lụi tàn, một nguồn sinh lực mãnh liệt không gì dập tắt được, đó chính là “Ngọn lửa không tắt”.
Ngọn lửa ấy không phải là ngọn lửa chiến tranh cháy rừng rực, mà là ngọn lửa của lý tưởng, của khát vọng hòa bình, của tinh thần yêu nước nồng nàn chảy trong huyết quản mỗi người con đất Việt. Nó bùng lên từ trái tim của những chiến sĩ, anh hùng dù đã hi sinh một cách thầm lặng nhưng sự thầm lặng ấy lại tạo ra một sự mất mát và biết ơn vô cùng to lớn.
Chiến tranh gây ra đau thương, mang lại sự tàn phá và phá hủy, cướp đi của con người nhiều thứ. Những có lẽ một thứ mà chiến tranh sẽ không bao giờ lấy đi, đó chính là nỗi đau của người ở lại.Ở độ tuổi đôi mươi,độ tuổi đẹp nhất đời người,những người lính đã ra đi một cách âm thầm và lặng lẽ. Họ không một lời từ biệt mà ra đi, để lại cho những người thân,những người ở lại những nỗi đau, mất mát và chia li. Hôm nay, ngồi trước bà Nguyễn Thị Chăm (thôn Tân Lập B,xã đăk mar, tỉnh quãng ngãi) sinh năm 1959 người thân của anh hùng dân tộc Việt Nam Nguyễn Văn Khiển sinh năm 1955, chúng tôi cứ tưởng như đã bước chân vào “thời hoa lửa” -nơi mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau một gang tấc, nơi mà chứa đụng lòng yêu nước hơn cả sự sống.
Bà quê ở Thái Bình – vùng đất của sự hiếu học và giàu văn hoá truyền thống. Bà kể rằng năm anh bà mới có 17, với ngọn lửa cháy trong tim và tinh thần yêu nước to lớn, anh trai bà đã quyết gia nhập đội ngũ xung phong bằng được.Bà kể giọng run nhẹ: “ năm đó bà mới có mười mấy tuổi, đã qua bao nhiêu năm bà không còn nhớ bóng dáng anh trai bà như nào nữa” .Khi nghe bà nói như vậy chúng tôi không khỏi nghẹn ngào, khi mà người con gái đang tuổi 15 đã phải chịu nỗi đau mất người thân, mất đi người anh trai yêu quý nhất. Nhưng không may thay, ông trời đã tiệt đi đường sống của ông, khi mà lỡ chân dẫm vào bom mìn chôn dưới đất. Bà ngập ngừng kể lại: “ anh trai bà… bị bom mìn nổ cho tan xác không mảnh thịt trên người nào còn lành lặn cả… đến cả một ngôi mộ đàng hoàng anh trai bà còn không có…” Thật đáng thương thay khi mà phải tưởng tượng khi ấy bà đã chịu đựng nỗi đau ấy như thế nào,bởi nỗi đau mất đi người thân sẽ không bao giờ phai nhoà theo năm tháng. Nhờ đó ta cũng thấy rằng sự hi sinh to lớn và tình yêu nước nồng nàn của người lính ấy.
Kể từ khi, người anh hùng nói lời từ biệt với gia đình thì chẳng còn một tin tức nào cả, bà kể “ bà cũng rất lo lắng cho anh trai nhưng chẳng biết làm sao cả”.Phải sau 4 năm mới có tin tức về cái chết của người lính qua lời kể của những người đồng đội còn sống sót trở về. 4 năm, khoảng thời gian không dài nhưng nó cũng đủ lâu để chai mòn một trái tim,tan biến niềm hi vọng, nhưng có lẻ ở một ngăn ngóc nào đó vẫn còn chứa đựng sự hi vọng và lo lắng, hi vọng trở về, lo lắng cho tính mạng người anh trai ruột thịt. Nỗi đau người ở lại mấy ai hiểu được, khi phải chịu đựng mất mát quá lớn và nhiều điều lo lắng không nguôi.
Đáng tiếc thay, người lính chỉ mới có 17 tuổi đầu đã phải hi sinh nơi chiến trường khốc liệt. Khi mà chưa đủ tuổi trăng tròn đã phải xa gia đình và không bao giờ gặp lại. Bà vừa rưng rưng nước mắt vừa kể lại: “ Gia đình còn không biết chính xác ngày ông mất là khi nào, chỉ nhớ cái ngày tổ quốc ghi công là ngày giỗ thôi”. Nếu ông còn sống chắc có lẽ bây giờ cũng đã 60 tuổi rồi. Không nỗi đau nào đau hơn nỗi đau của người ở lại, không tình yêu thương nào lớn hơn tình cảm gia đình. Người lính ra đi, chỉ còn để lại cho người thân nỗi đau không ai thấu hiểu được, nỗi đau mà không còn một ngôn từ nào có thể miêu tả được. Sự ra đi của người lính không phải chỉ thể hiện bên ngoài mà sâu kín nhất bên trong tim lại quặng thắt, xe nát ruột gan. Đã không biết bao nhiêu người đã phải chịu sự hi sinh, dâng hiến cả tuổi trẻ, ước mơ và cuộc đời,… không biết bao nhiêu người đã chịu đựng nỗi đau mất người thân để đổi lấy sự bình yên, độc lập cho đất nước mà chúng tôi đôi khi lại vô tình coi nó như sự thật hiển nhiên.
Bước ra ngoài, hơi lạnh của mùa đông thổi vào mặt. Chúng tôi bỗng thấy lòng mình nặng trĩu nhưng cũng sáng lên một cách lạ thường. Mặc dù thời hoa lửa đi trôi qua nhiều năm, nhưng sự hi sinh của những người lính sẽ tồn tại mãi mãi và nỗi đau của người ở lại sẽ không nhạt nhào một chút nào. Nhưng ở một góc nào đó trong tim chúng tôi vẫn rực cháy, không phải vì điều gì mà là lòng biết ơn, cảm ơn vì sự hi sinh đã đổi lấy 2 chữ “hoà bình”. Sự biết ơn không chỉ thể hiện qua lời nói mà còn thể hiện qua hành động, qua những hành động đối với những người còn ở lại.
“Thời hoa lửa” không chỉ là một giai đoạn lịch sử dữ dội, nơi bom đạn và khói súng bao trùm lên non sông đất nước, mà còn là một thử thách khắc nghiệt nhất đối với mọi giá trị nhân sinh, đặc biệt là tình cảm gia đình . Tuy nhiên, ta nhận ra rằng ngọn lửa về tình cảm gia đình trong bối cảnh ấy không hề bị dập tắt bởi bão táp; ngược lại, nó càng được tôi luyện để trở thành một thứ ánh sáng vĩnh cửu, rực rỡ và bất diệt hơn bao giờ hết.



