Bài viết

LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN THẠC VÀ MỐI TÌNH THỜI HOA LỬA – LỜI HẸN ƯỚC KỲ DIỆU NGÀY CHIẾN THẮNG

An Giang03/07/2026Đoàn Phường Long Phú (Đoàn Phường Long Phú)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh lý tưởng cách mạng sục sôi của thế hệ thanh niên xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, vẫn có những câu chuyện tình yêu bình dị mà vĩ đại, đẹp đẽ nhưng nhuốm màu chia ly. Mối tình dang dở giữa Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc và bà Phạm Như Anh chính là một minh chứng bất tử như thế. Được dệt nên từ những lần gặp gỡ ngắn ngủi và những lá thư thấm đẫm tâm sự, tình yêu của họ vượt qua giới hạn của không gian, thời gian, trở thành biểu tượng cao đẹp cho một thế hệ "Mãi mãi tuổi hai mươi".

Dù hôm nay đã bước qua tuổi bảy mươi với nét thanh tú và sự giản dị sau nhiều năm sinh sống ở nước ngoài, mỗi khi nhắc về thời thanh xuân, ký ức về người lính trẻ năm ấy vẫn khiến bà Như Anh không giấu được sự xúc động. Với bà, mối tình này đến như một món quà thiêng liêng của số phận.

Họ quen biết nhau từ năm 1968 dưới mái trường cấp 3 Yên Hòa B (Cầu Giấy, Hà Nội) khi Như Anh mới học lớp 8 còn Nguyễn Văn Thạc là anh Phó bí thư Đoàn trường xuất sắc. Ban đầu họ chỉ biết đến nhau chứ chưa thực sự thân thiết. Nhưng cả hai đều sớm bộc lộ tài năng thiên phú: Như Anh là cô lớp trưởng giỏi toàn diện, có truyện ngắn được in sách; còn anh Thạc nổi bật với giải Nhất cuộc thi học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc.

Đến năm học 1969–1970, tài năng của họ càng rực rỡ khi Như Anh đoạt giải Nhất Văn và giải Ba Sử thành phố, còn anh Thạc tiếp tục khẳng định vị trí của mình. Sau đó, Như Anh chuyển trường lên quận Hoàn Kiếm, còn anh Thạc bước vào giảng đường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ đây, sự đồng điệu về tri thức và lý tưởng đã khiến tình cảm đôi lứa nảy nở một cách tự nhiên. Thế nhưng, trong suốt quãng thời gian yêu nhau, họ chỉ có vỏn vẹn 5 lần hẹn hò trực tiếp, ngắn ngủi nhưng đầy bối rối và hoài niệm:

Lần đầu tiên: Cuộc gặp diễn ra trong sự hồi hộp, háo hức lẫn ngượng ngùng của tuổi mới lớn. Khi chia tay, Như Anh tặng anh tập truyện ngắn đầu tay “Một cơn giông”, còn anh Thạc trao lại chiếc huy hiệu Đoàn Thanh niên – những món quà giản dị nhưng gửi gắm bao tình cảm trong sáng.

Lần thứ hai: Họ chạm mặt trước cổng Thư viện Hà Nội. Buổi hẹn vẫn nguyên vẹn sự bối rối. Khi từ biệt, Như Anh trao tặng một đóa hoa quỳnh, nhưng anh Thạc từ chối vì nỗi lo mơ hồ về một điềm gở chia ly. Sự từ chối ấy khiến Như Anh tủi thân và định giữ khoảng cách. Nhưng càng cố quên lại càng nhớ, cuối cùng chính bà đã chủ động viết thư bày tỏ tình cảm, khẳng định mình không thể rời xa anh.

Lần thứ ba (ngày 1/7/1971): Tình cảm đã thực sự chín muồi. Cái chạm tay ngượng ngùng, những rung động mãnh liệt của trái tim ngày hôm đó vẫn vẹn nguyên trong tâm trí bà dù hơn 40 năm đã trôi qua.

Lần thứ tư: Diễn ra vội vã tại khu ký túc xá, nhuốm màu sắc của một bước ngoặt lớn khi Như Anh nhận được giấy báo lên đường sang Liên Xô du học.

Lần thứ năm – Buổi tối định mệnh (ngày 26/7/1971): Gặp nhau cạnh Văn Miếu trước ngày Như Anh bay. Đêm ấy, anh Thạc cố giấu việc mình đã có lệnh nhập ngũ để người yêu yên lòng, nhưng cuối cùng vẫn phải nói ra sự thật.

Trong phút giây tiễn biệt, Như Anh siết chặt tay anh cùng lời dặn:

"Hãy là một sự tuyệt đối!".

Anh Thạc khẽ hỏi lại:

"Như Anh có sẽ là một sự tuyệt đối không?".

Bà gật đầu trong nước mắt rưng rưng. Một cơn gió thoảng qua mang theo linh cảm mơ hồ rằng đây sẽ là lần cuối cùng họ nhìn thấy nhau và điều đó đã trở thành sự thật.

Khoảng cách muôn trùng trùng dương sau đó được nối liền bằng những cánh thư tay nồng nàn. Bức thư đầu tiên anh gửi ngày 8/11/1970 suýt chút nữa đã bị người cha nghiêm khắc của bà hủy bỏ như những bức thư của các bạn trai khác. Nhưng như một sự sắp đặt của số phận, ông lại giữ lại. Sau này bà tình cờ tìm thấy, những lời hỏi thăm giản dị ấy đã làm rung động trái tim cô nữ sinh. Phải đến ngày 4/3/1971 bà mới hồi âm. Trong nhật ký "Mãi mãi tuổi hai mươi", anh Thạc từng viết rằng chính ngày 9/3/1971 – khi nhận được lá thư phản hồi này anh mới thực sự bắt đầu sống có trách nhiệm hơn với cuộc đời.

Trong những trang thư tiếp theo, Nguyễn Văn Thạc gọi người yêu bằng mật danh "L." hoặc ví cô như "màu xanh da trời kỳ dị" cao xa nhưng trọn vẹn trong ánh mắt. Điều kỳ diệu khiến hậu thế sau này phải bàng hoàng chính là lời "tiên cảm" về ngày chiến thắng của người lính trẻ. Trong bức thư ngày 30/4/1971 - đúng 4 năm trước ngày non sông thu về một mối khi trả lời câu hỏi "Hạnh phúc là gì?", anh đã viết:

"Bốn năm nữa biết bao sự kiện sẽ xảy ra. 30/4/1975 thì Thạc và Như Anh đang ở trong tình trạng nào? Như Anh ơi, hứa với Thạc đi, 30/4/1975, dù chúng ta có thể giận, ghét nhau đến đâu đi nữa, dù thế nào cũng sẽ viết cho nhau những dòng chữ 'hạnh phúc là thế nào' nhé!"

Anh sẵn sàng đối mặt với gian khổ, chấp nhận "chết lúc bình minh" để đổi lấy ngày độc lập của dân tộc. Anh cũng bộc bạch những trăn trở về cuộc đời binh nghiệp trước ngày ra mặt trận (4/9/1971) với một tâm thế thanh thản.

Đến ngày 26/3/1972, từ doanh trại, anh thiết tha nhắn nhủ: "Chờ Thạc, Như Anh nhé! Chờ Thạc đi chiến đấu trở về... Thạc lại mặc chiếc áo xanh da trời xanh màu thương nhớ". Anh khao khát viết một tác phẩm lớn cho cuộc đời, nhưng cũng không quên khẳng định: “Như Anh là ngày mai, là tương lai của Thạc” – như thể anh đã biết trước quỹ thời gian của mình sẽ dừng lại sớm.

Lá thư cuối cùng anh gửi từ chiến trường đề ngày 11/7/1972 mang nặng nỗi buồn chia xa. Ngày 30/7/1972, người chiến sĩ thông tin Nguyễn Văn Thạc đã anh dũng hy sinh tại mảnh đất Quảng Trị đầy bom cày đạn xới khi tuổi đời mới vừa tròn hai mươi. Từ đó, bà Như Anh không bao giờ nhận thêm một bức thư nào từ anh nữa...

Nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đó. 33 năm sau ngày anh ngã xuống, vào năm 2005, bà bất ngờ nhận được một bức thư khác của anh đề ngày 30/5/1972. Bức thư này vốn được gửi về cho gia đình anh nhưng bị thất lạc trong một cuốn sách. Người giữ cuốn sách ấy sau khi đọc cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi mới nhận ra tên người gửi và tìm cách trao lại tận tay cho bà.

Suốt hơn 30 năm, bà Như Anh giữ gìn những bức thư như báu vật thịt xương của chính mình. Bà thực hiện trọn vẹn lời dặn của anh: không để bất kỳ ai đọc được, kể cả người chồng ngoại quốc dù ông rất giỏi tiếng Việt. Chỉ đến khi có một sự dẫn dắt tâm linh đặc biệt – thông qua một nhà ngoại cảm, bà tin rằng anh Thạc đã "gửi lời" mong muốn bà tiếp tục viết và công bố câu chuyện, bà mới quyết định chia sẻ chúng với cuộc đời.

Nhờ quyết định ấy, cuốn nhật ký "Mãi mãi tuổi hai mươi" và tác phẩm "Thư tình thời hoa lửa" được ra đời, làm lay động hàng triệu trái tim thế hệ mai sau. Tình yêu của họ không còn là chuyện riêng của hai người, mà đã hòa cùng dòng chảy lịch sử, trở thành khúc ca bi tráng về lòng yêu nước, sự hy sinh và khát vọng hòa bình cháy bỏng của cả một thế hệ anh hùng mà đến hôm nay, chúng ta vẫn luôn nhắc lại bằng tất cả sự trân trọng và biết ơn sâu sắc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn