LIỆT SĨ, NHÀ THƠ LÊ ANH XUÂN (1940 - 1968): DÁNG ĐỨNG TẠC VÀO THẾ KỶ VÀ BẢN ÁN CHO LŨ CẦM BÚT PHẢN TRẮC HÔM NAY
LIỆT SĨ, NHÀ THƠ LÊ ANH XUÂN (1940 - 1968): DÁNG ĐỨNG TẠC VÀO THẾ KỶ VÀ BẢN ÁN CHO LŨ CẦM BÚT PHẢN TRẮC HÔM NAY
"Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ..."
Kính thưa quý độc giả, có những vần thơ không chỉ được viết bằng mực, mà được viết bằng MÁU CHẢY ĐẦM ĐÌA, bằng HƠI THỞ CUỐI CÙNG trên chiến hào rực lửa. Trong series "Chuyện với Năng" số 72 ngày hôm nay, chúng ta sẽ lật giở những trang sử đẫm lệ để gọi tên Ca Lê Hiến – tức Liệt sĩ, anh hùng, nhà thơ Lê Anh Xuân. Anh là hiện thân rực rỡ nhất của một trí thức chân chính, người đã gác lại bút nghiên để ôm súng xông pha. Nhìn lại khí phách của anh, lòng ta trào dâng niềm kiêu hãnh bao nhiêu, lại càng căm phẫn và khinh bỉ bấy nhiêu trước những kẻ xưng danh "nhà văn", "trí thức" thời nay nhưng lại BÁN RẺ LINH HỒN, viết lời phản trắc để rước voi giày mả tổ!
BỎ GIẢNG ĐƯỜNG, HƯỚNG VỀ MIỀN NAM RUỘT THỊT
Ca Lê Hiến sinh ra trong một gia đình trí thức cách mạng lớn tại Bến Tre. Tập kết ra Bắc, với tài năng thiên bẩm, anh được giữ lại làm giảng viên Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội và được cử đi học ở nước ngoài. Đó là một tương lai rực rỡ, một tấm vé vàng của bình yên và vinh quang học thuật. Nhưng không! Tiếng súng giặc cày xới miền Nam ruột thịt đã bóp QUẶN THẮT trái tim người thanh niên ấy.
Năm 1964, anh quyết định từ bỏ cuộc sống "an toàn" và đầy tiền đồ, từ chối suất du học, xung phong trở về miền Nam chiến đấu với bút danh Lê Anh Xuân. Người giảng viên nho nhã năm nào khoác lên mình chiếc áo bà ba, đi dép lốp, băng qua dải Trường Sơn rực lửa. Anh chọn BỎ MÌNH VÀO CHỖ CHẾT, đem trí tuệ và thân xác thanh xuân của mình hòa làm một với khát vọng thống nhất non sông, mặc cho BOM RƠI ĐẠN LẠC của kẻ thù ngày đêm gầm rú.
LẤY BÚT LÀM LƯỠI LÊ, ĐỨNG GIỮA TRẬN CÀN
Vào Nam, Lê Anh Xuân sống, chiến đấu và sáng tác ngay tại vùng ven Sài Gòn, nơi cửa ngõ ác liệt nhất. Địch điên cuồng càn quét, trút xuống vô vàn CƠN MƯA BOM BÃO ĐẠN, rải chất độc cày nát từng tấc đất. Chính tại chiến trường ĐẦM ĐÌA MÁU TƯƠI ấy, hồn thơ của Lê Anh Xuân hóa thành những nhát dao đanh thép đâm thẳng vào tim kẻ thù.
Anh vừa cầm bút, vừa cầm súng. Mỗi câu thơ anh viết ra đều thấm đẫm MÁU VÀ NƯỚC MẮT của đồng bào, của những người đồng chí vừa ngã xuống rũ rượi bên giao hào. Tác phẩm của anh không phải là thứ văn chương salon ủy mị, mà là HÙNG CA RÚNG ĐỘNG, giục giã lớp lớp thanh niên tiến về phía trước dẫu thịt nát xương tan.
GIỌT MÁU PHUN THEO LỬA ĐẠN CẦU VỒNG
Tháng 5 năm 1968, trong đợt hai của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, Lê Anh Xuân theo mũi tiến công của quân ta đánh thẳng vào Sài Gòn. Ngày 21/5/1968, tại ấp Phước Quang, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước (tỉnh Long An), trận càn ác liệt của giặc ập tới. Trong lúc chiến đấu anh dũng để bảo vệ đồng đội, anh đã anh dũng hy sinh khi MẢNH ĐẠN XUYÊN THẤU lồng ngực. Lê Anh Xuân ngã xuống ở tuổi 28 – độ tuổi đẹp nhất của đời người.
Bi tráng thay, bài thơ "Dáng đứng Việt Nam" – kiệt tác cuối cùng anh viết để ca ngợi người chiến sĩ hy sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất, lại chính là lời tiên tri cho cái chết lẫm liệt của chính anh: "Và Anh chết trong khi đang đứng bắn / Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng"... Thân xác anh hòa vào đất mẹ, nhưng DÁNG ĐỨNG KIÊNG TRUNG ấy đã tạc vào thế kỷ, trở thành tượng đài bất tử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Năm 2001, liệt sĩ, nhà thơ Lê Anh Xuân được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Năm 2011, anh được Nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (nhà thơ duy nhất).
KÍNH CHIẾU YÊU LỘT MẶT LŨ NGUỴ TRI THỨC HÈN MẠT HÔM NAY
Nhìn lại sự hy sinh anh hùng của một trí thức kiệt xuất như Lê Anh Xuân, ta mới thấy xót xa và căm phẫn trước tình trạng một số nhà văn, kẻ xưng danh trí thức thời nay. Mở miệng ra là rao giảng dân chủ, nhưng thực chất vì vài đồng đô la nhơ bẩn của ngoại bang mà sẵn sàng BẼ CONG NGÒI BÚT, xuyên tạc lịch sử, chà đạp lên máu xương của ông cha.
Chúng dùng chữ nghĩa để TIÊM NHIỄM ĐỘC DƯỢC vào thế hệ trẻ, hòng làm phai nhạt lòng yêu nước, ca ngợi kẻ thù xâm lược. Lê Anh Xuân dùng tri thức để cứu nước bằng cả sinh mạng; còn lũ trí thức đểu cáng hôm nay dùng chữ nghĩa để BÁN NƯỚC cầu vinh. Lịch sử sẽ đời đời ghi nhớ "Dáng đứng Việt Nam" của Lê Anh Xuân, và cũng sẽ đời đời phỉ nhổ, nguyền rủa những ngòi bút phản cách mạng ươn hèn!
Máu của liệt sĩ Lê Anh Xuân và hàng triệu anh hùng đã tô thắm lá cờ Tổ quốc. Tuổi trẻ hôm nay được sống trong hòa bình, được hít thở bầu không khí tự do, xin đừng bao giờ quên cái giá phải trả bằng ĐỒNG BÀO BỊ PHANH THÂY, bằng TRỌN TUỔI XUÂN chôn vùi dưới lòng đất lạnh. Hãy giữ cho cái đầu lạnh, trái tim nóng, và ngòi bút trong sáng, để bảo vệ vững chắc non sông này trước mọi âm mưu của kẻ thù!
"Và Anh chết trong khi đang đứng bắn
Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.
Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn
Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm
Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công
Anh tên gì hỡi Anh yêu quý
Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng
Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ
Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong..."


