Bài viết

Liệt sĩ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (Tác giả cuốn nhật ký "Mãi mãi tuổi 20")

Hà Nội17/08/2026Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (Trường Đại học Hàng hải Việt Nam)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Câu chuyện thời hoa lửa

Trang chủThư viện ký ức sống mãiLiệt sĩ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (Tác giả cuốn nhật ký "Mãi mãi tuổi 20").

Người có công giúp đỡ cách mạng

Liệt sĩ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (Tác giả cuốn nhật ký "Mãi mãi tuổi 20").

Thời gian là một dòng chảy tàn nhẫn, nó có thể cuốn trôi đi những thành quách, những đền đài, nhưng tuyệt nhiên không thể vùi lấp được những "tuổi 20" đã hóa thân thành vĩnh cửu. Viết về Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc – chàng sinh viên xếp bút nghiên lên đường ra trận mùa hè năm 1971, không chỉ là thao tác lật lại một trang sử bi tráng của dân tộc. Đối với một sinh viên thế hệ hôm nay, đó là một cuộc đối thoại nội tâm sâu sắc, một sự soi chiếu đầy day dứt về cái giá của hòa bình và định nghĩa thực sự của hai chữ "Hạnh phúc" mà lớp người đi trước đã viết lại bằng máu.

Hà Nội17/08/2026Liên chi Đoàn Khoa Điện (Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - ĐHTN )1 lượt xem0 lượt chia sẻ

CHÚNG TA CỦA HIỆN TẠI VÀ LỜI HẸN MÙA XUÂN NĂM ẤY...

Tôi đang ngồi đây, giữa giảng đường của Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên trong một buổi

chiều nhạt nắng. Tiếng lật sách xạc xào, tiếng gõ bàn phím lách cách và những thanh âm êm đềm của

một ngày bình thường trôi qua. Nhìn ra khoảng trời xanh thẳm ngoài cửa sổ, tôi chợt nhận ra: Sự bình

yên này là một thứ xa xỉ tột cùng đối với những thanh niên mang danh xưng "sinh viên" của hơn nửa

thế kỷ trước.

Trong số những thanh niên ấy, có một người tôi chưa từng gặp mặt, nhưng những trang nhật ký anh để

lại đã găm vào tâm trí tôi một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Anh là Nguyễn Văn Thạc.

Người ta hay nhắc về anh như một biểu tượng của lòng yêu nước. Nhưng với tôi, trước khi trở thành

một anh hùng, Nguyễn Văn Thạc là một người trí thức trẻ mang tâm hồn đẹp đến nao lòng. Anh là một

học sinh giỏi Văn, một sinh viên khoa Toán - Cơ của Đại học Tổng hợp Hà Nội. Anh yêu những chùm

hoa phong lan mỏng manh, say mê những vần thơ tình, và mang trong ngực trái một mối tình đầu

thuần khiết với người con gái tên Như Anh.

Hãy thử tưởng tượng xem, ở độ tuổi 20 – cái tuổi mà chúng tôi hôm nay vẫn còn đang loay hoay với

những chênh vênh của việc định hình bản thân, với điểm số và những áp lực vô hình của kỷ nguyên số

thì anh Thạc đã phải đứng trước một ngã rẽ nghiệt ngã nhất của kiếp người: Sống cho riêng mình, hay

chết cho quê hương?

Tháng 9 năm 1971, chàng sinh viên Hà thành ấy đã tự tay gấp lại chiếc áo sơ mi trắng nhuốm mùi mực

viết, khoác lên mình bộ quân phục màu xanh lá cây rập rờn hơi thở của chiến tranh. Giây phút ấy, anh

có tiếc nuối không? Một tương lai rực rỡ với giảng đường, với những công trình nghiên cứu đang chờ

đón anh. Nhưng anh đã chọn đi vào nơi khói lửa. Trong cuốn nhật ký mang tên "Chuyện đời", anh lặng

lẽ ghi xuống một dòng mà sau này đã trở thành châm ngôn của cả một thế hệ:

"Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù..."

Đó không phải là một tiếng hô hào bốc đồng của tuổi trẻ, mà là sự lựa chọn đầy tỉnh thức. Người trí

thức ấy hiểu rõ sự tàn khốc của đạn bom, nhưng anh thà đem tấm thân trí thức của mình ra chắn những

làn đạn, còn hơn phải cúi đầu nhìn giang sơn bị giày xéo.

Hình ảnh:“Gương mặt thư sinh, ánh mắt trong veo

của chàng thanh niên Hà Nội trước ngày vào sinh ra tử.”

Điều khiến lồng ngực tôi thắt lại khi đọc về anh, chính là tình yêu của anh giữa bom đạn. Trong cái

không gian đặc quánh mùi tử khí của chiến trường miền Trung, ranh giới giữa việc còn thở hôm nay và

tắt lịm ngày mai mỏng manh như một sợi tơ, người ta dễ trở nên chai sạn. Vậy mà, anh Thạc vẫn gom

góp những sự lãng mạn cuối cùng để viết thư gửi về hậu phương. Lời hẹn ước của anh với Như Anh

không chỉ là lời của một người đang yêu, mà là lời của một người thiết tha được sống:

"Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc là được chờ đợi nhau... Như Anh hãy chờ Thạc nhé! 30/4/1975,

Thạc sẽ trả lời cho Như Anh câu hỏi: Hạnh phúc là gì?"

Cứ mỗi lần đọc đến con số "30/4/1975", tim tôi lại hẫng đi một nhịp. Vì sao lại là ngày đó? Một linh

cảm kỳ diệu, hay một niềm tin sắt đá của người lính vào ngày khải hoàn của dân tộc? Anh hẹn ngày đất

nước thống nhất sẽ trở về để định nghĩa hai chữ "Hạnh phúc". Lời hẹn ấy rực rỡ như một đóa hướng

dương, nhưng lại bi tráng đến tột cùng, bởi người hứa đã mãi mãi lỡ hẹn.

Chú thích: “Những dòng chữ nắn nót trong cuốn nhật kí

"Chuyện đời" – nơi neo đậu tâm hồn

của người lính sinh viên.”

Mùa hè rực lửa năm 1972, chiến trường Quảng Trị hóa thành một "cối xay thịt" tàn khốc nhất lịch sử.

Thành cổ nhỏ bé trong 81 ngày đêm oằn mình cõng trên lưng lượng bom đạn bằng 7 quả bom nguyên

tử. Đất Quảng Trị trộn lẫn máu xương. Sông Thạch Hãn đỏ ngầu cay đắng. Những chàng sinh viên

chưa từng quen sương gió như anh Thạc đã phải vật lộn dưới giao thông hào ngập bùn, đối diện với cái

chết mỗi phút, mỗi giây.

Và rồi, ngày 30/7/1972, tại ngã ba Long Hưng, viên đạn pháo oan nghiệt đã tìm đến anh. Chàng sinh

viên tài hoa ấy ngã xuống khi tuổi đời chưa trọn đôi mươi. Không có một phép màu nào xảy ra.

Nguyễn Văn Thạc vĩnh viễn nằm lại dưới những lớp cỏ non Thành cổ, mang theo vào lòng đất mẹ một

định lý toán học còn bỏ ngỏ, và một lời hẹn mùa xuân mãi mãi dang dở.

"Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm..."

Gấp lại trang nhật ký của người lính sinh viên năm ấy, một cảm giác hổ thẹn len lỏi trong tâm trí tôi.

Chúng tôi, những người trẻ hôm nay, đôi khi quá dễ dãi buông xuôi trước một bài thi điểm thấp, than

vãn vì một ngày mất mạng internet, hay gục ngã trước những áp lực vô hình. Chúng tôi coi sự bình yên

mình đang có là một điều hiển nhiên.

Nhưng nhìn lại anh Thạc, nhìn lại hàng vạn thanh niên đã chôn vùi thanh xuân dưới lòng sông Thạch

Hãn, tôi nhận ra món nợ khổng lồ mà thế hệ mình đang mang: Món nợ của máu và nước mắt. Các anh

đã từ bỏ tuổi 20 của mình, để đổi lấy hàng triệu "tuổi 20" rực rỡ cho chúng tôi ngày hôm nay.

Nguyễn Văn Thạc không thể trở về để trả lời câu hỏi "Hạnh phúc là gì?". Nhưng bằng sự hy sinh của

mình, anh đã để lại cho dân tộc một định nghĩa vĩ đại nhất: Hạnh phúc là được cháy tận cùng cho quê

hương được sống.

Ngoài kia, sân trường TNUT nắng vẫn vàng ươm. Bầu trời Thái Nguyên hôm nay cao và trong vắt. Tôi

bước ra khỏi lớp học, hít một hơi thật sâu, tự nhủ với lòng mình: Phải sống. Sống cho trọn vẹn, sống

cho tử tế, và sống thay cả phần đời rực rỡ mà những người lính "Mãi mãi tuổi 20" năm ấy chưa kịp

sống.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn