liệt sĩ Trần Can

Những kỷ niệm về người anh gan dạ
Rất may mắn là chúng tôi đã kết nối được với ông Lê Văn Tuấn, một người kém Trần Can 8 tuổi nhưng đã có những kỷ niệm tuổi thơ gắn bó với người anh hùng. Ông Lê Văn Tuấn sinh năm 1939, tại xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, cũng là quê hương của người anh hùng Trần Can (Ông Lê Văn Tuấn hiện sinh sống tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định).
Ông Tuấn kể, gia cảnh nghèo khó, lên 4 tuổi thì bố mất, Trần Can phải đi ở cho nhà địa chủ. Gia đình mà Trần Can ở là của ông Lê Do, chính là người chú họ của ông Tuấn. Nhà ông Lê Do thuê 3 người làm, trong đó có Trần Can. Anh làm đủ việc nhưng chủ yếu là đi chăn trâu cho nhà chủ, một mình chăn 3 con trâu. Có những hôm anh mải chơi, trâu đi lạc nên về bị đánh đòn. Nhà ông Tuấn ở gần đó, cách một bờ dậu, dù chênh nhau 8 tuổi nhưng hai anh em thân nhau. Ngày nhỏ ông Tuấn có tên là Tửu. Vào mùa sim, mỗi lần đánh trâu từ rú về qua ngõ thế nào Trần Can cũng gọi: “Tửu! Tửu! Mi ra mau tau bảo”. Chú bé Tửu chạy ra, anh Can ra hiệu vạch túi áo nâu non rồi trút từ tay áo anh xuống đầy túi sim chín mọng cho cậu bé. Tửu tha hồ ăn đen mép những quả sim căng tròn như bầy trâu con.
Vào vụ gặt thì anh Can cùng với người nhà ông Lê Do cùng đi gặt. Khi gặt về, các bà trục lúa và rang cốm. Buổi tối, Trần Can lại vẫy chú bé Tửu sang, hai anh em nằm trong ổ rơm mới thơm hương lúa, vừa ăn cốm vừa trò chuyện. Mùa đông rét, hai cậu bé cùng lấy những chiếc bì đựng lúa đan bằng đay đắp thay chăn. Sáng sớm, anh Can lại gọi Tửu dậy về, còn anh lại đánh trâu vào núi.
Có lần hai anh em cùng cưỡi trâu, con trâu lồng lên phi xuống đầm khiến chú bé Tửu sợ xanh mặt, trong khi anh Can vẫn ghì chắc chiếc thừng giữ thăng bằng và nhắc cậu em ngồi sau ôm chặt. Sự gan dạ của Trần Can đã được thể hiện từ những ngày niên thiếu như thế.
Tuy nhỏ tuổi nhưng cậu bé Tửu khá lanh lợi, hai anh em thân và quý nhau nên những kỷ niệm về người anh, ông vẫn nhớ nguyên trong lòng cho đến hôm nay, khi đã ở tuổi 85. Trong trí nhớ của ông Tuấn, Trần Can là một thiếu niên lanh lợi, da đỏ au, hàm én rất điển trai nhưng cũng rất gan dạ. Trên má anh có vết sẹo dài gần chục phân từ gò má kéo xuống tới cằm do bị trâu húc.
Anh Can thường bảo cậu bé Tửu rằng, thanh niên phải đi bộ đội đánh giặc để đất nước hòa bình. Ông không ngờ người anh bình dị ngày thơ ấy mấy năm sau đã là một chiến sĩ chiến đấu kiên cường ở Tây Bắc, luôn xung phong ở tuyến đầu và anh dũng ngã xuống nơi chiến trường Điện Biên Phủ.
Ông Lê Văn Tuấn vẫn nhớ chuyện anh Can đi bộ đội. Xã Sơn Thành có 3 cái điếm thì điếm làng ông là to nhất. Trần Can đã xin đi bộ đội mấy lần nhưng vì vóc dáng nhỏ bé nên không được toại nguyện. Đến lần thứ tư, tháng 1-1951, anh đã được tuyển, nhập ngũ vào Sư đoàn 312. Trần Can cùng với 4, 5 người của xã cùng đi bộ đội đợt ấy tập trung ở điếm, mặc quần áo nâu, đi dép lốp, đội mũ nan.
Những người trong gia đình dặn dò anh: Can ơi, mày vào bộ đội là phải cố gắng, chứ mày là háu đói lắm đấy. Mọi người dặn như vậy là vì Trần Can là người nhanh đói, mỗi lần đi đâu về, câu đầu tiên thế nào anh cũng hỏi mẹ rằng cơm chín chưa, hoặc sục vào chạn tìm cơm nguội.
Ông Tuấn lớn lên cũng đi bộ đội, chiến đấu ở chiến trường K, sau đó về công tác tại Cục Đối Ngoại Miền Tây, thuộc Bộ Quốc phòng, đến năm 1978 mới nghỉ hưu. Điều ông thắc mắc là, ngày trước các anh hùng đều được in cuốn sách nhỏ nói về gương chiến đấu, hy sinh để thế hệ trẻ học tập, nhưng ông không thấy sách về Trần Can, người anh tuổi thơ mà ông hằng ngưỡng mộ.
Noi gương người anh Trần Can, ông Tuấn cũng chiến đấu hết mình và bị thương ở chiến trường K sát biên giới Thái Lan. Đi suốt đời quân ngũ, là thương binh hạng ¼, hạng nặng nhất, sức khỏe yếu và mọi thứ cuốn đi, mãi đến năm 2013, ông Tuấn mới nói người cháu đưa lên Điện Biên để thăm mộ người anh thuở thiếu thời.
Đến Điện Biên, ông bảo người cháu ra chợ mua một bó hoa trắng để viếng mộ Trần Can, vì khi hy sinh, Trần Can mới 24 tuổi, chưa một mảnh tình. Bước vào Nghĩa trang Liệt sĩ Đồi A1, đến chỗ cây vạn tuế, ông nhìn thấy mộ Phan Đình Giót ở bên phải, mộ Trần Can bên trái, ông Tuấn ngồi xuống ôm mộ Trần Can rưng rưng nước mắt.
Kể lại câu chuyện, ông Tuấn đọc cho tôi nghe mấy câu thơ mà ông xúc cảm viết từ lần viếng mộ người anh năm ấy: Chiều nay ôm mộ anh Can/ Bao năm xa cách vô vàn nhớ thương/ Viếng anh hoa trắng khói hương/ Âm dương cách biệt lòng thương vô vàn/ Chiều nay ôm mộ anh Can.



