Thân nhân liệt sĩ, người có công

Liệt sĩ Trần Quang Chiêu

Chiều cuối năm, nắng vàng nghiêng qua khung cửa cũ, phủ lên tấm bằng “Tổ quốc ghi công” treo trang trọng giữa gian nhà. Khung gỗ đã ngả màu theo năm tháng, nhưng những dòng chữ đỏ vẫn nổi bật như một ngọn lửa chưa từng tắt. Tôi đứng lặng nhìn cái tên được viết bằng nét mực mềm mại: Liệt sĩ Trần Quang Chiêu. Bà nội kể rằng ông là người con của vùng quê nghèo ven sông. Thuở trai trẻ, ông khỏe mạnh, hiền lành và có tiếng hát hay nhất xóm. Những đêm trăng sáng, ông thường cùng thanh niên trong làn

Vĩnh Long02/06/2026Trần Thị Kiều Trinh (xã Ngãi Tứ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiều cuối năm, nắng vàng nghiêng qua khung cửa cũ, phủ lên tấm bằng “Tổ quốc ghi công” treo trang trọng giữa gian nhà. Khung gỗ đã ngả màu theo năm tháng, nhưng những dòng chữ đỏ vẫn nổi bật như một ngọn lửa chưa từng tắt.

Tôi đứng lặng nhìn cái tên được viết bằng nét mực mềm mại: Liệt sĩ Trần Quang Chiêu.

Bà nội kể rằng ông là người con của vùng quê nghèo ven sông. Thuở trai trẻ, ông khỏe mạnh, hiền lành và có tiếng hát hay nhất xóm. Những đêm trăng sáng, ông thường cùng thanh niên trong làng chèo ghe trên sông, hát những câu vọng cổ về quê hương, về mùa lúa chín.

Nhưng rồi đất nước chìm trong khói lửa.

Tiếng súng thực dân vọng về từ những cánh đồng xa. Những cuộc càn quét, những mái nhà cháy đỏ trời khiến cuộc sống bình yên không còn nữa. Khi Tổ quốc gọi tên, chàng trai tuổi đôi mươi ấy gác lại giấc mơ riêng, từ biệt người mẹ già và người con gái vẫn chờ bên bến nước để tham gia kháng chiến.

Ngày ông lên đường, trời mưa lất phất.

Bà cố chỉ kịp nhét vào tay con trai một nắm cơm nắm và chiếc khăn rằn cũ. Ông cúi đầu lạy mẹ rồi bước đi giữa con đường làng lầy lội. Không ai biết đó là lần cuối cùng họ nhìn thấy nhau.

Những năm tháng chiến đấu là những năm tháng của đói rét, gian khổ và hiểm nguy. Ông cùng đồng đội bám trụ giữa đồng nước, rừng tràm và những con kênh chằng chịt. Ban ngày tránh máy bay địch, ban đêm hành quân. Có những bữa chỉ ăn củ chuối, rau dại, nhưng trong tim họ luôn cháy một niềm tin rằng đất nước nhất định sẽ độc lập.

Mùa thu năm 1948, trong một trận đánh ác liệt, đơn vị của ông bị bao vây.

Để bảo vệ đồng đội rút lui, ông tình nguyện ở lại chặn địch. Giữa làn đạn dày đặc, người chiến sĩ trẻ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Khi đồng đội quay lại tìm, ông đã nằm lại trên mảnh đất quê hương mình yêu quý.

Ông ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ.

Tin dữ về làng nhiều tháng sau mới tới. Bà cố ôm lá thư báo tử mà khóc cạn nước mắt. Người con gái năm nào lặng lẽ đứng bên bờ sông, nhìn dòng nước trôi mãi về phía chân trời.

Năm tháng qua đi.

Chiến tranh kết thúc, đất nước hòa bình. Những đứa trẻ ngày ấy đã thành ông, thành bà. Những cánh đồng bom đạn năm xưa nay xanh ngắt màu lúa mới.

Rồi một ngày, gia đình nhận được tấm bằng “Tổ quốc ghi công”.

Bà nội nâng niu đặt nó vào khung kính, treo ở nơi trang trọng nhất trong nhà. Không phải để nhắc về mất mát, mà để nhắc rằng sự bình yên hôm nay được đổi bằng tuổi xuân, bằng máu và bằng cả cuộc đời của những người đã ngã xuống.

Mỗi lần nhìn tấm bằng ấy, tôi lại hình dung về một chàng trai tuổi đôi mươi giữa thời hoa lửa — thời mà những con người bình dị đã sống và hy sinh như những đóa hoa đỏ rực giữa chiến tranh, để thế hệ sau được lớn lên trong hòa bình.

Ngọn lửa ấy không còn là tiếng súng.

Nó đang cháy trong ký ức, trong lòng biết ơn, và trong từng mùa lúa vàng trên quê hương mà họ đã dùng cả tuổi trẻ để gìn giữ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn