Liệt sỹ Bành Văn Còn (1)
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, có những con người đã sống và cống hiến một cách thầm lặng, không ồn ào, không hào quang, nhưng sự hy sinh của họ lại góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của đất nước. Và ông cả của em ông Bành Văn Còn, còn gọi là Nguyễn An Đông hay Hai Đông, sinh năm 1923, là một con người như thế – một chiến sĩ tình báo cách mạng kiên trung, một trí thức yêu nước, một tấm gương sáng về lòng trung thành và sự hy sinh vì Tổ quốc.Câu chuyện được chia sẻ từ Học sinh Ngô Hoàng Trâm Anh-Lớp 11A8 Nguyễn An Đông sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước sâu sắc. Gia đình ông có đến mười lăm anh chị em, lớn lên trong môi trường giàu tinh thần dân tộc và ý thức trách nhiệm đối với đất nước. Đặc biệt, ngôi nhà của gia đình ông từng là một “địa chỉ đỏ” – nơi nuôi giấu và bảo vệ những người bộ đội chìm hoạt động bí mật giữa lòng đô thị. Chính môi trường ấy đã sớm hun đúc trong ông lòng yêu nước, tinh thần cách mạng và ý chí dấn thân vì độc lập, tự do của dân tộc. Khi đất nước bước vào những năm tháng chiến tranh ác liệt, Nguyễn An Đông đã giác ngộ cách mạng và trực tiếp tham gia hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc: kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Trong suốt quá trình đó, ông đảm nhận nhiệm vụ tình báo - một công việc đặc biệt nguy hiểm, đòi hỏi sự mưu trí, gan dạ, kiên nhẫn và tuyệt đối trung thành. Hoạt động trong lòng địch, ông luôn đối mặt với hiểm nguy, nhưng vẫn kiên cường bám trụ, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Không chỉ là một chiến sĩ tình báo, Nguyễn An Đông còn là một trí thức, một kỹ sư có chuyên môn. Ông vừa hoạt động cách mạng, vừa tiếp tục theo đuổi sự nghiệp kỹ sư, lấy trí tuệ và kiến thức của mình để phục vụ cho đất nước. Hình ảnh một người trí thức âm thầm cống hiến, vừa lao động trí óc, vừa chiến đấu trong bóng tối, cho thấy vẻ đẹp toàn diện của con người cách mạng Việt Nam: yêu nước, tài năng và sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung.
Hình ảnh bằng khen “Gia đình Cách mạng gương mẫu” của gia đình Trong quá trình hoạt động, ông từng bị địch bắt và giam giữ tại Khám Chí Hòa - một trong những nhà tù khét tiếng thời bấy giờ. Những ngày tháng trong tù không làm ông khuất phục, trái lại càng tôi luyện thêm ý chí và tinh thần cách mạng. Ngay trong chốn lao tù, ông cùng những người đồng đội đã sáng tác và đối đáp với nhau những bài thơ đầy cảm xúc, thể hiện tinh thần lạc quan, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Bài thơ dưới đây là đoạn đối đáp giữa đồng chí Nguyễn Văn Thanh và đồng chí Nguyễn An Đông bày tỏ sự nhung nhớ mẹ già:Khám lạnh canh khuya nhớ mẹ giàTuổi đời sáu mươi tóc sương phaGian truân đau khổ từng giai đoạnNhớ cháu, thương con, dạ xót xa! (Nguyễn Văn Thanh)Khám lạnh canh khuya nhớ mẹTôi cũng như anh có mẹ giàCần cù bao quản tóc sương phaCho con trọn hiếu cùng dân tộcĐất nước nặng tình, há xót xa! (Nguyễn An Đông)Những vần thơ ấy không chỉ là nguồn động viên tinh thần mà còn là minh chứng cho sức mạnh tinh thần bất khuất của người chiến sĩ cộng sản. Cùng với đó là những bài thơ mà họ đã bày tỏ nỗi niềm nhớ nhung người chồng, người con của mình đồng thời là sự tin tưởng, chờ đợi ngày hòa bình:Văng vẳng bên tai tiếng khóc chồngCủa người thiếu phụ chốn phòng khôngNgày ngày rầu rỉ bên song cửaĐăm đắm phương trời mỏi mắt trông!(Nguyễn Văn Thanh)Hãy dịu dần đi tiếng khóc chồngCòn bao hiền phụ cảnh phòng khôngNăm qua tháng lại kiên tâm đợiDạy trẻ nuôi già thay ngóng trông!(Trương Văn Biên)Nhắn nhủ ai kia chớ khóc chồngTan rồi phải hiệp, lẽ nào khôngChàng về vang tiếng hoàn ca khúcKhỏi phụ lòng nàng mỏi mắt trông.(Nguyễn An Đông)Tôi nhớ tôi thương tôi khóc chồngCớ sao ông lại bảo là không?Việc nhà, việc nước tôi lo đủCòn chút thời gian, tôi ngóng trông!(Nguyễn Văn Khiết)
Hình ảnh Khám Chí Hòa (thành phố Hồ Chí Minh) (Nguồn: Internet)Tuy nhiên, con đường cách mạng của Nguyễn An Đông cũng đầy gian nan và bi kịch. Khi hoạt động tình báo của ông bị lộ, tổ chức đã chuẩn bị đưa ông ra miền Bắc để tránh sự truy lùng gắt gao của chính quyền Mỹ – ngụy. Nhưng chưa kịp thực hiện kế hoạch ấy, thì bi kịch đã xảy ra. Vào ngày 6 tháng 8 năm 1968, khi ông đang di chuyển bằng xe máy trên đường phố Sài Gòn, hai thanh niên áp sát và nổ súng ám sát ông bằng súng giảm thanh. Sau đó, kẻ địch tạo dựng hiện trường giả nhằm che giấu tội ác, khiến nhiều người lầm tưởng rằng ông gặp tai nạn giao thông. Ban đầu, ông được an táng tại Nghĩa trang cũ trên đường 30/4 (nay là khu vực cây xăng). Sau này, khi gia đình và đồng đội tiến hành cải táng, phát hiện thi hài ông vẫn còn nguyên vẹn, sự thật về cái chết của ông mới được làm sáng tỏ: ông đã bị sát hại một cách có chủ đích vì hoạt động cách mạng. Sau đó, hài cốt của ông được đưa về an táng trang trọng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Cần Thơ – nơi ghi danh những người con ưu tú đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Hình ảnh mộ phần của ông Bành Văn Còn (Nguyễn An Đông) và tượng đài Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố Cần Thơ (Nguồn: Internet)Vì hoạt động với công việc tình báo và đặc thù của công việc là phải giữ bí mật nên ông không thể kể gì với gia đình về công việc của mình cụ thể là làm gì, bản thân ông đã cống hiện được gì, đến ngày ra đi ông cũng chẳng kịp nói lời từ biệt, nhưng có lẽ sự cống hiến trong thầm lặng và sự hy sinh cao cả của ông đã được ghi chép lại, ông Bành Văn Còn (Nguyễn An Đông) đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì chống thực dân Pháp xâm lược, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất chống Mỹ cứu nước. Những tấm huân chương ấy không chỉ là sự công nhận những đóng góp, tri ân đối với cá nhân ông, mà còn là sự tôn vinh đối với thế hệ những người lính tình báo âm thầm, kiên trung trong lòng địch. Là một người cháu trong gia đình, em luôn cảm thấy tự hào và xúc động khi được nghe kể lại cuộc đời cách mạng thầm lặng của ông cả của mình - ông Bành Văn Còn. Sự hy sinh và lòng trung thành của ông nhắc nhở em phải biết trân trọng nền độc lập, hòa bình mà hôm nay em đang có. Từ tấm gương của ông, em học được bài học về ý chí kiên cường, không lùi bước trước khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Ông còn dạy em rằng tri thức và nghề nghiệp cần được sử dụng để cống hiến cho gia đình, xã hội và đất nước. Là thế hệ đi sau, em tự nhủ phải sống có lý tưởng, có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Em sẽ cố gắng học tập, rèn luyện đạo đức để xứng đáng với truyền thống yêu nước của gia đình. Đó cũng là cách em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với ông và những người đã hy sinh vì Tổ quốc.



