Liệt sỹ Nguyễn Hữu Tường(1945 - 28/04/2004)
Hôm trước, em thấy bà lôi từ trong tủ ra một chiếc hộp gỗ có lẽ đã có từ rất lâu về trước. Bên trong chiếc hộp ấy là một chiếc khăn đã bạc màu. Em tò mò cầm thử và hỏi sao bà lại cất giữ chiếc khăn này kĩ đến vậy. Bà im lặng, ánh mắt nhìn xa xăm như đang nhìn về một miền kí ức xa xôi, bàn tay bà nhẹ nhàng vuốt lên những nếp gấp quen thuộc. Rồi bà bắt đầu kể cho em nghe về “thời hoa lửa” của ông nội.giọng bà chậm rãi, trầm ấm như mang theo hơi thở cảu những tháng ngày gian khó mà hào hùng.
Theo lời bà kể, ngày ấy ông còn rất trẻ. Những năm tháng chiến tranh, cả quê nghèo ngập trong khói lửa. Ông nội em cũng như bao chàng thanh niên thời ấy, gác lại tuổi thanh xuân, gác lại ước mơ được học hành để lên đường nhập ngũ, đấu tranh. Ông đi trong một buổi sáng mờ sương, chỉ kịp dặn bà nhớ giữ gìn sức khỏe. Bà nói mang theo một nỗi nhớ nhung, xót xa khó tả. Bà bảo khi ấy ông “đi mà như chạy theo tiếng gọi của đất nước”, còn bà đứng nhìn theo hình bóng ông khuất sau rặng tre làng.
Ảnh chân dung của ông Nguyễn Hữu Tường.
Khi ấy ông vẫn còn rất trẻ chỉ vừa tròn mười tám. “Thời hoa lửa” cảu ông là những ngày hành quân, những đêm thức trắng bên đồng đội và cả những lần đối mặt với nguy hiểm chỉ trong gang tất. Bà kể rằng ông hay kể về tinh thần lạc quan của ông em, về tiếng đàn bầu mà ai đó mang theo, về những ước mơ bình dị mà họ thường kể cho nhau nghe vào những đêm thức trắng trong chiến khu. “Thời ấy khó lắm”, bà nói “nhưng ai cũng sống bằng niềm tin vào ngày mai”.
Có lần, ông suýt không về. Bà kể giọng khẽ run run, ánh mắt sâu thẳm. Trong một trận đánh lớn, đơn vị của ông bị địch phục kích. Ông bị thương nặng, tưởng không thể tiếp tục hành quân được nũa. Nhưng nhờ đồng đội cõng ông suốt chặng đường dài mà ông được cứu sống. Bà bảo, kể từ hôm ấy, ông càng trân quý tình nghĩa và càng tin vào cuộc sống kì diệu.
Bà kể những lá thư ông gửi về, chữ nghuệch ngoạc nhưng đầy thương nhớ. Mỗi lần nhận thư của ông, bà nâng niu như báu vật. Cũng có những tháng dài chẳng nhận được tin, bà chỉ biết âm thầm cầu xin trời cho ông sớm bình an trở về. Đó là những tháng ngày bà sống trong lo âu, nhưng bà hiểu rõ hơn cả là sự hi sinh thầm lặng của bao người lính.
Khi hòa bình trở lại, ông trở về làng với tấm lưng gầy đi nhiều nhưng đôi mắt vẫn sáng, như mang theo cả bầu trời hi vọng. Bà nói đó là khoảng khắc bà nhớ suốt đời. Ông bước vào sân, cười với bà như chàng trai năm nào, dù chiến tranh đã cướp đi của ông tuổi trẻ. “Thời hoa lửa” của ông là như vậy đó “vừa dữ dội, vừa đau lòng”.
Tuy giờ ông không còn nữa nhưng mỗi lần nghe bà kể lại những câu chuyện về ông. Em càng hiểu hơn về giá trị của hòa bình, trân trọng hơn những hy sinh thầm lặng âm thầm của thế hệ đi trước. “ Thời hoa lửa” của ông không chỉ là chuyện về những năm tháng chiến tranh khốc liệt, mà còn là bài học v ề tình yêu, lòng dũng cảm và niềm tin bền bỉ vào điều tốt đẹp. Và em hiểu rằng, chính những hy sinh thầm lặng như của bà, mà cuộc sống yên bình hôm nay được xây dựng.


