Liệt sỹ Nguyễn Sỹ Vân – người cắm cờ đỏ sao vàng trên Tháp Rùa năm 1948
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, lực lượng thanh niên-học sinh-sinh viên Hà Nội luôn luôn là lực lượng xung kích của cách mạng. Thành phố bị quân đội Pháp chiếm đóng từ cuối tháng 2-1947, nhưng nhân dân yêu nước vẫn kháng chiến, đánh địch ngay tại đầu não của chính quyền địch. Ngày 19-5-1948, cờ đỏ sao vàng kiêu hãnh tung bay giữa Tháp Rùa cổ kính. Đó chính là biểu tượng khát vọng hòa bình, độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, lực lượng thanh niên-học sinh-sinh viên Hà Nội luôn luôn là lực lượng xung kích của cách mạng. Thành phố bị quân đội Pháp chiếm đóng từ cuối tháng 2-1947, nhưng nhân dân yêu nước vẫn kháng chiến, đánh địch ngay tại đầu não của chính quyền địch. Ngày 19-5-1948, cờ đỏ sao vàng kiêu hãnh tung bay giữa Tháp Rùa cổ kính. Đó chính là biểu tượng khát vọng hòa bình, độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.
Ông Nguyễn Sỹ Vân đã cùng ông Nguyễn Văn Khâm và ông Nguyễn Trọng Quang-học sinh của trường Chu Văn An thực hiện cuộc treo cờ, sau đó bị bắt và đi đày ở Khe Tù, Tiên Yên, Quảng Ninh. Ông bị tra tấn đến chết sau cuộc vượt ngục không thành (năm 1948).
Năm 2001, hài cốt của Liệt sỹ Nguyễn Sỹ Vân mới được tìm thấy trong bao nỗi ngậm ngùi, thương xót… Do điều kiện khảo cứu, cần tư liệu chính xác, bài viết này chỉ đề cập về Liệt sỹ Nguyễn Sỹ Vân.
Học sinh kháng chiến trường Chu Văn An
Ngôi nhà của gia đình liệt sỹ Nguyễn Sỹ Vân xưa, nay vẫn ở 50 Hàng Bài, Hà Nội. Tôi đến gặp ông Nguyễn Đình Tân và Nguyễn Đình Giáp, hai em trai của liệt sỹ, sau đó, tra cứu thêm tư liệu để tìm hiểu sự kiện cho tường minh hơn.
Tháng 9-1947, Thành ủy Hà Nội đã được thành lập lại; do đó, tổ chức Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể, các lực lượng vũ trang (dân quân, du kích, công an) cũng được kiện toàn từ thành phố xuống các cấp cơ sở. Nội thành bị Pháp chiếm đóng, còn ngoại thành được chia thành ba quận 4, 5, 6 để tổ chức các lực lượng kháng chiến.
Thành ủy chủ trương kiên trì gây dựng cơ sở kháng chiến, đẩy mạnh các hoạt động vũ trang, trong đó, đặc biệt coi trọng nội thành. Dưới sự chỉ đạo của Thành ủy và Ty Công an Thành phố, công an quận 6 đã triển khai đường dây vào nội thành, gây dựng được cơ sở mà đối tượng là những người yêu nước đã từng tham gia và ủng hộ Việt Minh trong cách mạng tháng Tám và thanh niên nhiệt tình, hăng hái hoạt động, từ đó, móc nối với thanh niên học sinh trường Chu Văn An.

Liệt sỹ Nguyễn Sỹ Vân (1930-1948).
Trong gian nhà chật hẹp, ông Nguyễn Đình Tân kể về anh trai mình: “Tháng 12 năm 1946, anh Vân theo gia đình tản cư về quê ở Đại Từ, huyện Chương Mỹ; cuối năm 1947, gia đình mới theo làn sóng dân hồi cư, trở lại thành phố sinh sống. Ngôi nhà 50 Hàng Bài vốn là nhà của ông chú họ, dược sĩ Nguyễn Đình Hoằng, đã đi tản cư, nhờ cha tôi - cụ Nguyễn Sỹ Quảng trông hộ. Tôi rất nhớ đầu năm 1948, anh Vân vào trường Chu Văn An học tiếp lớp cuối cấp phổ thông cơ sở (lớp Đệ Tứ) để lấy bằng Đíp lôm. Tôi không biết anh Vân tham gia kháng chiến, vì lúc ấy tôi học lớp dưới”.
Tháng 3-1948, Bùi Văn Quý làm Thị trưởng Thành phố, tổ chức lại hệ thống chính quyền ở 34 khu phố nội thành và 5 quận ngoại thành. Các Sở, Ty của của chính quyền tay sai cũng được tổ chức lại. Tiếng súng kháng chiến lại vang lên giữa nội thành. Ngày 10-10-1947, Trương Đình Tri cam tâm làm Việt gian đã phải đền tội, sự kiện này đã tác động mạnh đến tinh thần người dân Hà Nội. Học sinh trường Chu Văn An cũng dần dần hình thành tổ học sinh bí mật, do ông Nguyễn Văn Khâm bắt mối vào trường, và ông Nguyễn Sỹ Vân, Nguyễn Trọng Quang đã sớm trở thành cơ sở của công an quận 6.
Treo cờ đêm 18-5-1948
Từ khi lập Ban cán sự nội thành vào cuối năm 1947 do đồng chí Bí thư Thành ủy Lê Quang Đạo trực tiếp phụ trách đến giữa năm 1948, cơ sở kháng chiến đã phát triển mạnh hơn trước. Phong trào chiến tranh du kích, diệt tề trừ gian sôi nổi ở ngoại thành đã tác động mạnh vào đầu não của địch; đồng thời, nhiều cơ sở kháng chiến đã có ở các nhà máy, xí nghiệp, khu phố, trường học. Và cơ hội hành động đã đến với tổ thanh niên kháng chiến trường Chu Văn An. Công an quận 6 do ông Hồng Hà (tức Quỳ) làm Quận trưởng báo cáo kế hoạch treo cờ ở Tháp Rùa với Ban cán sự nội thành và đã được duyệt. Ông Khâm là tổ trưởng quán xuyến toàn bộ công việc chuẩn bị sẵn cán cờ, lá cờ, nhất là việc bí mật bơi ra hồ sao cho địch không phát hiện được. Tất cả phải chu đáo, kỹ càng, tỉ mỉ, vì bốt Hàng Trống (nay là trụ sở công an quận Hoàn Kiếm) ở gần Bờ Hồ. Đêm 18-5, ông Khâm cảnh giới, hai ông Vân và Quang bơi ra Tháp Rùa làm nhiệm vụ. Sáng hôm sau, bọn địch ở cả bốt Hàng Trống và Tòa Đốc lý mới nhìn thấy lá cờ, chúng tức tốc ra Tháp giật cờ, nhưng nhân dân đã truyền tai nhau: Việt Minh treo cờ ở Tháp Rùa. Cờ đỏ sao vàng tung bay giữa Hồ Gươm, làm cho nhân dân nức lòng, phấn chấn, tin tưởng bởi sau khi Trung đoàn Thủ đô rút ra khỏi thành phố, đến tháng 5-1948 là hơn một năm. Với việc treo cờ, lực lượng kháng chiến đã “ra mắt” dân chúng. Sau cuộc diệt Trương Đình Tri ở cổng Đục (10-10-1954), đây là hành động thứ hai gây tiếng vang lớn. Lá cờ đỏ sao vàng trên Tháp Rùa đã vẫy gọi nhân dân hướng về Chính phủ kháng chiến.
Ông Tân kể tiếp: “Tôi hồi ấy còn bé, anh Vân không cho theo; nhưng kỷ niệm thì không quên được. Tôi nhớ, sáng hôm sau, anh Vân về nhà, lại thấy mặc quần áo anh Khâm, mẹ tôi hỏi tối qua đi đâu không về nhà, anh ấy nói tối qua con đi xem phim. Không ai biết, chỉ mấy ngày sau, tai họa giáng xuống gia đình tôi”.



