LÒ VĂN BƯỜNG – NGƯỜI ANH HÙNG BÁM DÂN, BÁM BẢN TRÊN ĐẤT BẠN LÀO
Tháng 8-1948, Lò Văn Bường nhập ngũ, tham gia Đoàn 335, làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào. Trong những năm hoạt động tại Viêng Say, Sầm Nưa, Sầm Tớ, Xiêng Khoảng…, ông cùng đồng đội kiên trì bám dân, xây dựng cơ sở cách mạng và phát triển lực lượng du kích. Đầu năm 1952, trong một lần bị đối phương phát hiện tại Mường Khun, ông chiến đấu chống trả và bị thương nặng ở bụng, đốt sống cổ, mắt phải. Sau khi thoát vào rừng và được cứu chữa, ông tiếp tục trở lại công tác. Ngày 7-5-1956, Trung đội phó Lò Văn Bường được tặng Huân chương Quân công hạng Ba và phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Hình ảnh ông từ chối làm con đường mang tên mình đến tận nhà, mong dành kinh phí làm đường cho bà con trước, là một nét đẹp bình dị của người lính Cụ Hồ.
Con đường dẫn vào thôn Cộc Chẻ, xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, Thanh Hóa gập ghềnh những dốc đá. Đã có thời điểm địa phương muốn làm một con đường nhựa mang tên Lò Văn Bường, kéo dài đến tận nhà người Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nhưng ông từ chối.
Ông chỉ có một mong muốn giản dị:
Hãy dành số tiền ấy làm đường cho bà con trước. Đường vào nhà mình chưa cần thiết.
Có lẽ câu chuyện nhỏ ấy đã nói lên rất nhiều về con người Lò Văn Bường – người lính từng đi qua những năm tháng gian khổ trên đất bạn Lào, được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nhưng khi trở về đời thường vẫn giữ nguyên sự khiêm nhường, giản dị của người lính Cụ Hồ.
Theo tiếng gọi Tổ quốc, sang đất bạn Lào
Tháng 8-1948, chàng trai Lò Văn Bường lên đường nhập ngũ, tham gia Đoàn 335 – bộ đội tình nguyện Việt Nam giúp cách mạng Lào.
Từ năm 1948 đến 1953, dấu chân ông cùng đồng đội in trên những vùng rừng núi Viêng Say, Sầm Nưa, Sầm Tớ, Xiêng Khoảng...
Nhiệm vụ của họ không chỉ là cầm súng chiến đấu.
Một nhiệm vụ khó khăn không kém là đi vào vùng sau lưng địch, bám dân, xây dựng cơ sở cách mạng và phát triển lực lượng du kích.
Đại đội khoảng 150 cán bộ, chiến sĩ phối hợp với lực lượng giải phóng Lào chia thành những tổ nhỏ, có khi chỉ 2-3 người, len lỏi vào từng thôn bản.
Họ gặp dân.
Ở cùng dân.
Giúp đỡ dân.
Rồi từng bước tuyên truyền để bà con hiểu vì sao phải đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp.
Công việc ấy diễn ra trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt.
Rừng núi hiểm trở.
Đói rét.
Bệnh tật.
Sự truy lùng của đối phương.
Thậm chí có những nơi người dân chưa hiểu cách mạng, còn e ngại và xa lánh cán bộ.
Nhưng Lò Văn Bường cùng đồng đội vẫn kiên trì bám dân, bám bản.
Từng cơ sở cách mạng dần được hình thành.
Các đội du kích được tổ chức.
Nhiều cán bộ địa phương được đào tạo để trở thành hạt nhân của phong trào.
Lực lượng cách mạng còn tổ chức nhân dân hai lần phá vỡ âm mưu “dồn dân”, giữ vững hệ thống cơ sở và đường dây liên lạc.
Máu giữa rừng Mường Khun
Năm 1951, Lò Văn Bường được điều sang một tổ khác với nhiệm vụ đặc biệt khó khăn: khôi phục một cơ sở cách mạng vừa bị phá vỡ.
Ông cùng đồng đội vừa giúp dân chống đói, vừa kiên trì vận động từng gia đình, từng người dân.
Đầu tháng 2-1952, trong một lần vào bản gặp cai tổng tại Mường Khun, Lò Văn Bường bất ngờ bị một toán khoảng 20 lính phát hiện.
Tình thế vô cùng nguy hiểm.
Không chấp nhận để mình rơi vào tay đối phương, ông lập tức chiến đấu.
Một mình giữa vòng vây, Lò Văn Bường bắn trả quyết liệt, làm bị thương nhiều đối phương.
Nhưng chính ông cũng trúng đạn.
Bụng bị thương.
Đốt sống cổ bị thương.
Mắt phải bị thương.
Máu chảy nhiều nhưng ông vẫn cố tìm đường vào rừng.
Đối phương truy đuổi một đoạn, tưởng ông đã chết nên bỏ đi và quay vào bản.
Còn Lò Văn Bường tiếp tục lết sâu vào rừng.
Cho đến khi không còn đủ sức nữa, ông ngất đi.
Tiếng ve giữa rừng sâu
Không biết bao lâu sau, giữa rừng núi vắng lặng, Lò Văn Bường nghe thấy tiếng ve rừng.
Ông tỉnh lại.
Điều đầu tiên ông nhận ra:
Mình vẫn còn sống.
Mang trên người những vết thương nặng, ông cố gắng lần tìm đường trở về nơi trú quân của tổ.
Ở vùng rừng sâu khi ấy gần như không có thuốc men và điều kiện cứu chữa. Vết thương ngày càng nặng.
Nhưng điều khiến Lò Văn Bường lo lắng nhất lại không phải tính mạng của mình.
Ông sợ cơ sở cách mạng vừa gây dựng sẽ tiếp tục bị phá.
Vì thế, ông động viên đồng đội:
Hãy giữ lấy cơ sở, đừng quá lo cho mình.
Nhờ sự chăm sóc của y tá và nhân dân địa phương, những vết thương của ông dần lành lại.
Và ngay khi sức khỏe cho phép, Lò Văn Bường tiếp tục trở lại công tác.
Trở lại với những bản làng
Sau khi hồi phục, ông được điều lên hoạt động ở khu vực Thượng Lào.
Năm 1953, khi tình hình chiến trường Đông Dương ngày càng quyết liệt, Lò Văn Bường được phân công về khu vực Xiêng Khoảng, tiếp tục xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng sau lưng đối phương.
Cuộc sống của những người lính tình nguyện vô cùng thiếu thốn.
Có những ngày chỉ có ngô và rau để ăn qua bữa.
Nhưng Lò Văn Bường cùng cán bộ địa phương vẫn tiếp tục củng cố cơ sở, tổ chức phòng chống biệt kích, bảo đảm an ninh và phát triển phong trào du kích.
Điều quan trọng nhất mà những người lính Việt Nam gây dựng được không chỉ là những tổ chức cách mạng.
Đó còn là niềm tin của nhân dân các bộ tộc Lào.
Từ những tổ công tác chỉ vài người giữa vùng rừng núi xa xôi, từng bản làng trở thành cơ sở, từng người dân trở thành chỗ dựa và phong trào cách mạng từng bước phát triển.
Anh hùng của tình đoàn kết Việt – Lào
Những thành tích của Lò Văn Bường được Quân khu 4 và Đoàn 335 nhiều lần biểu dương. Ông được công nhận là Chiến sĩ thi đua của bộ đội tình nguyện Việt Nam giúp Lào.
Ngày 7-5-1956, khi đang là Trung đội phó bộ binh Trung đoàn 335, Lò Văn Bường được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Huân chương Quân công hạng Ba và phong tặng danh hiệu:
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.
Kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc nhưng cuộc đời người lính của ông chưa dừng lại.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt, ông tiếp tục tham gia bảo vệ tuyến giao thông huyết mạch của Thanh Hóa từ khu vực cầu Hàm Rồng đến địa phận Tĩnh Gia.
Phía sau những năm tháng chiến đấu ấy còn có người vợ Trương Thị Pừng, người đã chờ đợi ông từ khi còn là một phụ nữ trẻ cho tới lúc ông trở về quê hương.
Con đường không mang tên mình
Nhiều thập niên sau chiến tranh, người chiến sĩ năm nào trở về với cuộc sống bình dị giữa miền núi Thanh Hóa.
Mái tóc đã bạc.
Những vết thương chiến tranh vẫn còn đó.
Nhưng phẩm chất của người lính năm xưa dường như không thay đổi.
Khi có ý định làm con đường mang tên Lò Văn Bường dẫn tới tận nhà mình, ông không nhận.
Bởi theo ông:
Bà con cần con đường ấy hơn mình.
Một người từng chịu đói giữa rừng để gây dựng cơ sở cách mạng.
Một người từng bị thương nặng giữa vòng vây nhưng vẫn lo cho cơ sở và đồng đội trước bản thân.
Một người đã dành những năm tháng tuổi trẻ chiến đấu trên đất bạn vì nghĩa vụ quốc tế.
Và khi hòa bình, ông vẫn chọn nhường phần thuận lợi cho nhân dân.
Có những người anh hùng được nhớ đến bởi một trận đánh.
Có những người được nhớ bởi một chiến công.
Nhưng câu chuyện về Anh hùng LLVTND Lò Văn Bường còn gợi nhắc một phẩm chất khác của người lính Cụ Hồ:
Trong chiến tranh, bám dân để chiến đấu.
Trong hòa bình, nghĩ cho dân trước khi nghĩ đến mình.



