Cựu chiến binh

Lời hẹn ước dưới hầm kèo

Lời hẹn ước dưới hầm kèo

Phú Thọ25/08/2026Phường Nghĩa Lộ (Đoàn phường Nghĩa Lộ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến tranh khốc liệt giội xuống Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng (Lào) bằng những trận mưa bom. Những đồng đội của tôi, anh Giang hy sinh, anh Chuân bị thương nặng. Giữa lúc đất trời ngả nghiêng, tôi đã gặp anh Hoàng Ngọc Chấp, Chính trị viên Đại đội pháo cao xạ thuộc Tiểu đoàn 11, Binh trạm 11-người chỉ huy dạn dày nhưng có tâm hồn yêu văn chương đến lạ. Những đêm bên gian hầm ẩm ướt, chia nhau bát rau tàu bay luộc, anh lại mượn tôi hai cuốn sổ ấy để “ngốn ngấu” đọc.

Thế nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, giữa những ngày Chiến dịch Z  diễn ra từ tháng 12-1971 đến tháng 4-1972, đang vào giai đoạn đỏ lửa nhất, tôi có quyết định điều chuyển về Binh trạm bộ Binh trạm 13 một cách đột ngột. Trong căn hầm kèo ẩm mùi đất đỏ, anh Chấp ngồi thẫn thờ bên mâm cơm chỉ có bát rau tàu bay luộc và mấy cọng măng rừng. Anh vốn là người nóng tính, nhưng hôm ấy anh hiền lạ. Cái vẻ bực dọc vì không giữ được tôi lại tiểu đoàn bộ cứ lặn đi, thay vào đó là một nỗi buồn mênh mông hiện rõ trên những nếp nhăn nơi khóe mắt.

Tôi lặng lẽ thu xếp ba lô. Thực ra, hành trang người lính có gì đâu, ngoài bộ quân phục sờn vai và chiếc võng dù, nhưng thứ nặng nhất chính là hai cuốn sổ tay đang nằm im lìm dưới đáy ba lô. Tôi rút chúng ra, đôi tay run run đặt lên mặt chiếc bàn ghép bằng gỗ thùng đạn.

“Anh Chấp à, em đi rồi... Chiến trường lúc này ác liệt quá, em không dám hứa ngày trở lại gặp các anh”, tôi nhìn vào mắt anh, giọng nghẹn lại: “Em xin tặng lại anh hai cuốn sổ này. Anh là người yêu văn nghệ, yêu cái đẹp, anh hãy giữ lấy nó làm bạn. Nếu chẳng may... nếu một mai em hy sinh, không về được với đơn vị nữa thì anh hãy coi đây là vật kỷ niệm của một người đã mất. Anh giữ hộ em chút hơi ấm của bạn bè Hà Nội nhé!”.

Không gian dưới hầm bỗng chốc đặc quánh lại. Tiếng pháo cầm chừng từ phía xa vọng về nghe như tiếng tim đập lỗi nhịp. Anh Chấp nhìn hai cuốn sổ, rồi nhìn tôi. Đôi bàn tay thô ráp của người chỉ huy từng dạn dày qua bao trận đánh bỗng run lên bần bật. Anh không nói gì, chỉ đột ngột bước tới, dang rộng đôi tay ôm ghì lấy vai tôi.

Đó là một cái ôm thắt ruột. Lần đầu tiên trong đời lính, tôi thấy một người chỉ huy thép như anh lại khóc. Anh khóc không thành tiếng, nhưng những tiếng nấc từ lồng ngực anh rung lên bần bật, thấm đẫm vào vai áo tôi. Những giọt nước mắt nóng hổi, mặn chát tràn ra như bao nhiêu dồn nén của những lần tiễn biệt đồng đội hy sinh, giờ đây trút cả vào giây phút chia xa này.

Mùi cỏ cháy khét lẹt từ ngoài công sự theo gió lùa vào hầm, hòa lẫn với mùi mồ hôi, mùi vải Tô Châu bạc màu. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng anh không chỉ khóc thương cho một đứa em, một người liên lạc, mà anh đang khóc vì xúc động cho cả một thế hệ sinh viên xếp bút nghiên vào trận địa-những người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng nhưng lại nâng niu từng trang viết như báu vật của đời mình.

Tôi khoác ba lô bước lên khỏi hầm, bóng anh đứng lặng bên cửa công sự cứ nhỏ dần, nhỏ dần giữa khói đạn mịt mùng của vùng Bản Ban. Tôi đi vào vùng lửa, mang theo hơi ấm từ vòm ngực của anh và để lại sau lưng những dòng chữ mực tím-thứ kỷ vật mà khi ấy, cả hai chúng tôi đều ngỡ rằng đó là lời di chúc của một người sắp đi vào cõi vĩnh hằng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn