LỜI HỨA CÒN DANG DỞ
Có những cuộc chia ly chỉ là vài tháng, vài năm. Nhưng cũng có những cuộc chia ly kéo dài đến hết một đời người. Đối với bà Nguyễn Thị Khẩn, thôn Tân Minh, xã Tân An, tỉnh Tuyên Quang, lần tiễn chồng lên đường vào tháng 3 năm 1970 đã trở thành cuộc chia ly mãi mãi.
LỜI HỨA CÒN DANG DỞ
Có những cuộc chia ly chỉ là vài tháng, vài năm.
Nhưng cũng có những cuộc chia ly kéo dài đến hết một đời người.
Đối với bà Nguyễn Thị Khẩn, thôn Tân Minh, xã Tân An, tỉnh Tuyên Quang, lần tiễn chồng lên đường vào tháng 3 năm 1970 đã trở thành cuộc chia ly mãi mãi.
Ngày ấy, ông Ma Phúc Nhúng được nghỉ phép sau thời gian chiến đấu ở chiến trường. Căn nhà nhỏ nơi vùng quê yên bình rộn rã tiếng cười khi người lính trở về. Hai cậu con trai là Ma Phúc Phòng và Ma Phúc Thực quấn quýt bên cha, còn bà Khẩn lặng lẽ nhìn chồng sau những tháng ngày xa cách.
Những ngày phép ngắn ngủi trôi qua thật nhanh.
Đêm trước khi trở lại đơn vị, hai vợ chồng ngồi bên nhau, tâm sự về gia đình và tương lai. Người lính nhìn vợ với ánh mắt đầy yêu thương rồi mỉm cười nói:
“Lần này về, mình cố gắng sinh cho anh một cô con gái nhé.”
Đó là một lời nói rất đỗi bình dị, là mong ước của một người chồng, một người cha sau khi đã có hai cậu con trai. Bà Khẩn chỉ mỉm cười gật đầu. Không ai ngờ rằng, đó cũng là một trong những lời tâm sự cuối cùng của hai vợ chồng.
Ít ngày sau, ông Ma Phúc Nhúng lại khoác ba lô lên đường trở về đơn vị.
Bà đứng trước hiên nhà, lặng lẽ dõi theo bóng chồng khuất dần trên con đường làng. Bà không biết rằng, cái vẫy tay hôm ấy chính là lần cuối cùng bà được nhìn thấy người bạn đời của mình.
Thời gian lặng lẽ trôi qua.
Rồi bà biết mình mang thai.
Trong lòng bà vừa vui, vừa mong ngóng. Bà chỉ mong chiến tranh sớm kết thúc để chồng trở về, được bế trên tay đứa con mà anh hằng mong mỏi.
Điều kỳ diệu đã đến.
Bà sinh một bé gái.
Đứa con gái đúng như lời hứa năm nào của người chồng trước lúc lên đường.
Nhưng người cha ấy…Đã không còn cơ hội trở về để nhìn thấy con.
Ông cũng không được nghe tiếng con khóc chào đời, không được bế con vào lòng, không được đặt tên cho con như ông từng mong ước.
Năm 1972, giấy báo tử của liệt sĩ Ma Phúc Nhung được gửi về gia đình.
Tin dữ ấy như xé nát trái tim người vợ trẻ.
Niềm vui có thêm một người con gái cũng không thể khỏa lấp nỗi đau mất chồng.
Cho đến tận hôm nay, sau hơn nửa thế kỷ, mỗi lần nhắc lại câu chuyện ấy, trong mắt bà Nguyễn Thị Khẩn vẫn ánh lên nỗi nhớ và sự tiếc nuối.
Bà thường nói rằng điều khiến bà day dứt nhất không phải là những năm tháng một mình nuôi các con khôn lớn, mà là người chồng năm ấy đã kịp biết mình sắp có một cô con gái, đã kịp gửi gắm niềm mong ước giản dị của một người cha, nhưng lại không có cơ hội được gặp con dù chỉ một lần.
Lời hứa năm nào đã trở thành hiện thực.
Gia đình đã có một người con gái như ông hằng mong ước.
Chỉ tiếc rằng…
Người cha đã hy sinh vì Tổ quốc, mãi mãi không được nhìn thấy món quà quý giá nhất mà cuộc đời đã dành cho mình.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng câu chuyện về lời hứa của người lính và nỗi chờ đợi của người vợ vẫn còn đó, như một minh chứng cho những mất mát lớn lao mà biết bao gia đình Việt Nam đã phải trải qua để đổi lấy nền hòa bình hôm nay. Những ký ức ấy nhắc nhở thế hệ hôm nay luôn biết trân trọng cuộc sống, gìn giữ hòa bình và ghi nhớ công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ cùng những người vợ đã âm thầm hy sinh cả tuổi xuân để chờ đợi một người sẽ không bao giờ trở về.


