Lời hứa nửa thế kỷ dưới chân núi Hoài Ân
Ở lứa tuổi thanh xuân đẹp nhất, họ gặp nhau, yêu nhau và nên duyên vợ chồng khi đất nước còn chia cắt. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta đã tôi luyện nên những người con kiên trung, nhưng cũng để lại những khoảng lặng mà chỉ thời bình mới có cơ hội xoa dịu. Câu chuyện về một ngôi mộ “chôn gửi” nơi núi rừng Hoài Ân (Gia Lai) và lời hứa đi qua hai thế kỷ của một gia đình nông dân bình dị là minh chứng hùng hồn cho vẻ đẹp tâm hồn người lính và nghĩa tình quân dân cá nước sâu nặng.
Trong ký ức của ba mẹ tôi, những năm tháng 1964 là một dấu mốc không thể nào quên. Khi ấy, đất nước đang cuộn mình trong khói lửa chiến tranh, ba tôi Nguyễn Xuân Tân vừa tròn đôi mươi, còn mẹ Phạm Thị Hồng Hoa mới 16 xuân xanh. Họ nên duyên tại thôn Hội An 2, xã Phổ An, huyện Đức Phổ (nay là phường Trà Câu, Quảng Ngãi) bằng một đám cưới giản dị đến khiêm nhường. Giữa thời điểm mà yêu thương luôn song hành với chia ly, hạnh phúc của ba mẹ tôi vừa nhen nhóm đã phải đứng trước những thử thách khắc nghiệt của cuộc chiến tranh.

Chỉ vài tháng sau ngày cưới, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ba tôi lên đường nhập ngũ. Ít lâu sau, người vợ trẻ chưa đầy mười bảy tuổi cũng gác lại nỗi niềm riêng, thoát ly gia đình để trở thành người chiến sĩ. Định mệnh đưa cả hai cùng chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 3 Sao Vàng – đơn vị chủ lực anh hùng, bám trụ tại vùng núi rừng hiểm trở của huyện Hoài Ân và An Lão (Bình Định).
Nhiều năm biền biệt, họ là đồng chí, là vợ chồng nhưng lại bặt tin nhau giữa chiến trường khốc liệt. Mãi đến năm 1972, trong một cuộc hành quân qua những cung đường máu lửa, ba tôi mới ngỡ ngàng gặp lại mẹ. Giây phút ấy, ông mới biết người bạn đời của mình bấy lâu nay cũng mang trên vai màu áo lính. Hạnh phúc vỡ òa giữa cánh rừng già hun hút. Và cũng tại mảnh đất Hoài Ân đầy bom đạn, nắng cháy này, anh hai tôi chào đời. Anh thừa hưởng những nét đẹp của cả ba và mẹ, sáu tháng tuổi đã vô cùng kháu khỉnh, là niềm hy vọng, là nguồn an ủi lớn lao cho đôi vợ chồng chiến sĩ trẻ giữa mưa bom, bão đạn của cuộc chiến.
Thế nhưng, nghiệt ngã thay, một trận dịch thổ tả quái ác đã cướp mất sinh mạng của anh. Nơi chiến khu trăm bề thiếu thốn, các cô chú y bác sĩ đành ngậm ngùi đưa anh về nằm lại nơi đất mẹ Hoài Ân, gửi cạnh mộ phần của một người dân địa phương.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, ba mẹ tôi trở về quê hương trong niềm vui sum họp nhưng cũng đối mặt với bao bộn bề thiếu thốn của đất nước vừa đi qua cuộc chiến tranh. Ba tiếp tục công tác tại Huyện đội Đức Phổ cho đến ngày nghỉ hưu, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Còn mẹ, người phụ nữ từng xông pha nơi hòn tên mũi đạn lại trở về với vai trò người nông dân tần tảo, tay cuốc tay cày nuôi nấng đàn con.
Dẫu hòa bình đã lập lại nửa thế kỷ, nhưng ước nguyện trở lại chiến trường xưa để tìm lại đứa con đầu lòng vẫn luôn đau đáu trong lòng ba mẹ. Thời gian cứ lặng lẽ trôi, sức khỏe người lính già ngày một yếu đi. Trong khi cảnh vật xưa đã thay hình đổi dạng, khiến hành trình tìm kiếm tưởng chừng như vô vọng.
Năm 2019, ba tôi trút hơi thở cuối cùng sau một cơn bạo bệnh. Như một sự thôi thúc từ tâm linh và nỗi lòng của người con hiếu thảo, tôi quyết định lên đường tìm lại nơi anh trai mình đang yên nghỉ. Và điều kỳ diệu đã xảy ra: Sau 46 năm thất lạc, tôi đã tìm thấy mộ phần của anh. Càng xúc động hơn khi biết rằng, suốt 52 năm qua, mộ phần ấy đã được gia đình “ông nội Điểu”, người chủ ngôi mộ mà anh tôi được chôn gửi chăm sóc vẹn toàn qua ba, bốn thế hệ. Ngày mẹ tôi rời mảnh đất Hoài Ân để tiếp tục cuộc kháng chiến, ông nội Điểu đã nắm chặt tay bà mà hứa: “Cháu cứ yên tâm đi chiến đấu, phần mộ đứa nhỏ cứ để ông lo”. Lời hứa của một người nông dân năm ấy đã được lưu truyền như một gia bảo cho đến tận đời cháu nội, cháu cố của ông. Chữ tín bằng cả tấm lòng, cao quý đến nhường nào!
Nhờ sự giúp đỡ tận tình của vợ chồng chú Nguyễn Viết Chữ và cô Lý (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi), tôi đã kết nối được với cô Sáu Phượng, một đồng đội cũ của mẹ vẫn đang bám trụ lại chiến trường xưa. Chính cô là cầu nối cuối cùng đưa tôi về với gia đình ân nhân. Đứng trước mộ phần của anh hai, tôi nghẹn ngào trong tiếng nấc, vừa xót xa cho xương thịt người thân, vừa trân quý vô ngần tình đất, tình người Hoài Ân. Trong tôi, mảnh đất này đã thành quê hương thứ ba của tôi, nơi tôi được nhận làm con kết nghĩa trong gia đình giàu lòng nhân ái ấy.
Câu chuyện về cuộc đời ba mẹ tôi và ngôi mộ của anh trai là một lát cắt nhỏ trong pho sử vàng của dân tộc, nhưng nó chứa đựng sức sống mãnh liệt của tình đồng chí, nghĩa đồng bào. Sự hy sinh của những người chiến sĩ không chỉ nằm ở máu xương đổ xuống chiến trường, mà còn ở những nỗi đau thầm lặng mang theo suốt đời. Và trên tất cả, sự tử tế của Nhân dân chính là điểm tựa vững chắc nhất để những giá trị nhân văn cao đẹp luôn trường tồn với thời gian. Hoài Ân còn mãi sự gắn bó máu thịt giữa quân và dân, giữa quá khứ và hiện tại.



