Lời Hứa Trọn Đời Của Người Anh Hùng Nguyễn Phú Vỵ
Phạm Anh Thư
Đầu tháng 12-2023, Hà Nội đón một đợt không khí lạnh tăng cường. Trong những ngày trời trở rét ấy, chúng tôi có một niềm vui đặc biệt khi được Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Phú Vỵ-người đã hơn 100 tuổi đời, 78 năm tuổi Đảng-nhận lời tiếp chuyện tại căn nhà riêng ở ngõ 305, tổ 10, phường Ngọc Thụy (Long Biên, Hà Nội).
Đúng 20 giờ, dù được anh Nguyễn Phú Hồng-con trai út của Đại tá, Anh hùng LLVT Nguyễn Phú Vỵ trực tiếp đưa vào nhà, chúng tôi vẫn không khỏi ái ngại. Ở tuổi bách niên, giờ ấy có lẽ cụ đã nghỉ ngơi. Thế nhưng vừa mở cửa đón khách, cụ Vỵ đã nở nụ cười vui vẻ và nói: “Đã hứa tiếp các anh là phải giữ lời chứ!”.
Có lẽ cũng từ câu nói ấy mà câu chuyện của người lính già với chúng tôi cứ tự nhiên nối dài, bởi phía sau cuộc đời ông là biết bao lời hứa đã được giữ trọn qua những năm tháng chiến tranh.
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nguyễn Phú Vỵ khi ấy chỉ là một thanh niên nông thôn quê ở Phúc Xá-bãi giữa sông Hồng, nay thuộc phường Ngọc Thụy, quận Long Biên. Ông xin vào làm công nhân tại Nhà máy Điện Yên Phụ. Khi đất nước bước vào những ngày sục sôi của cách mạng, cùng nhóm thanh niên trong làng, ông khai tăng tuổi, từ tuổi thật sinh năm 1924 thành sinh năm 1922, để đủ điều kiện nhập ngũ.
Rồi mùa đông năm 1946, khí thế kháng chiến lan khắp Hà Nội. Nguyễn Phú Vỵ cùng đồng đội Nam tiến, mang theo nhiệt huyết của tuổi trẻ và quyết tâm đánh giặc. Những trận chiến liên tiếp đưa ông trưởng thành, nhưng cũng để lại những vết thương trên cơ thể. Khi bị thương, ông được tổ chức đưa ra Bắc điều trị. Trước giờ chia tay đồng đội, người lính trẻ tự nhủ rằng mình nhất định sẽ trở lại mặt trận khi vết thương bình phục.
Lời hứa ấy không nằm lại nơi giường bệnh. Sau khi điều trị xong, theo sự phân công của tổ chức, Nguyễn Phú Vỵ tiếp tục chiến đấu ở nhiều địa bàn thuộc Đồng bằng Bắc Bộ, trải qua hơn 30 trận đánh lớn nhỏ. Giữa những ngày tháng chiến tranh khốc liệt, ông còn mang trong lòng một lời hẹn với mẹ: sẽ có ngày trở về phép để xây dựng gia đình.
Và ông đã giữ lời.
Trong một lần tranh thủ được về quê, Nguyễn Phú Vỵ nên duyên với cô thôn nữ Nguyễn Thị Thành-người con gái nết na mà trước đó ông chưa từng biết mặt. Cuộc hôn nhân đến vội giữa những năm tháng chiến tranh. Vợ chồng còn chưa kịp quen hơi, người lính đã phải trở lại chiến trường vì lời hứa với đồng đội. Rồi thêm hai lần nữa, ông bị thương giữa những trận đánh.
Nhiều năm sau, nhắc lại cuộc đời của chồng, cụ bà Nguyễn Thị Thành vẫn xúc động: “Phúc đức của tổ tiên để lại nên hòn tên mũi đạn tránh ông ấy. Đã không biết bao nhiêu lần ông lên đường, rồi trở về, rồi lại lên đường… Chiến tranh không thể biết trước điều gì, nhưng ông ấy luôn giữ đúng lời hứa với bố mẹ, với tôi và với cả đồng chí, đồng đội”.
Nghe vợ nhắc lại những năm tháng đã qua, cụ Nguyễn Phú Vỵ chậm rãi nói như một lời lý giải cho chính cuộc đời mình: “Đời quân ngũ có nhiều kỷ niệm, có nhiều lời hứa mà tôi đã thực hiện. Đó không chỉ là sự quyết tâm của riêng mình mà phải chăng, đó còn là sự may mắn, hoặc là sự sắp đặt ngẫu nhiên nào đó của tạo hóa”.
Nhưng nếu chỉ có may mắn thì có lẽ không thể giải thích được một cuộc đời đã đi qua quá nhiều trận mạc như ông.
Năm 1954, sau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, Đại đoàn Đồng Bằng mà Nguyễn Phú Vỵ thuộc biên chế vẫn tiếp tục chiến đấu, tham gia giải phóng tỉnh Nam Định. Trong một trận đánh tại Hải Hậu, mỗi cán bộ, chiến sĩ được phát một nắm cơm làm khẩu phần ăn tối. Trên đường hành quân, ai kịp ăn thì ăn, ai chưa ăn thì giữ lại để dùng sau trận.
Trong tiểu đội của Nguyễn Phú Vỵ khi ấy có chiến sĩ Bảo, người nhỏ con nên được Tiểu đội trưởng đặc biệt quan tâm. Những vật dụng Bảo mang theo thường được ông nhận mang giúp. Trước giờ bước vào trận đánh, Nguyễn Phú Vỵ gom tư trang của Bảo để mang hộ, chỉ để lại cho người chiến sĩ trẻ nắm cơm của mình để giữ sức.
Bảo khi ấy chỉ nhẹ nhàng nói: ”- Em chưa đói, để sáng mai ăn cho đỡ nhớ nhà anh ạ”.
Nhưng Bảo đã không thể chờ đến sáng hôm sau. Trong trận đánh ấy, anh dũng hy sinh, nắm cơm vẫn được ấp trên bụng, còn giữ hơi ấm của người lính. Nắm cơm sau đó được đặt làm lễ chung cho những chiến sĩ đã hy sinh trong trận đánh ngay trên quê hương Bảo.
Kỷ niệm ấy trở thành một trong những ký ức sâu sắc nhất theo Nguyễn Phú Vỵ suốt phần đời còn lại. Ông từng chứng kiến những năm tháng mà quân đội còn nghèo, từ kháng chiến chống thực dân Pháp đến kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khẩu phần của người lính ra trận thường chỉ là những nắm cơm gạo tẻ độn ngô, khoai. Nhưng với người lính, nắm cơm ấy không chỉ để lấp đầy chiếc bụng đói mà còn chứa đựng tình cảm của hậu phương, của đồng đội và của cả quê hương.
Cụ Vỵ nghẹn ngào nhớ lại: “Nắm cơm không chỉ quý ở cốt thực mà còn chan chứa nghĩa tình đồng chí, đồng bào. Thực tế, có những lúc đồng đội anh dũng hy sinh thì người còn sống sử dụng súng đạn của đồng đội để tiếp tục đánh giặc, còn cơm thì…”
Câu nói bỏ lửng. Nước mắt người lính già chậm rãi lăn trên đôi gò má nhăn nheo. Có lẽ những ký ức của chiến trường dù đã đi qua hàng chục năm vẫn chưa bao giờ thực sự ngủ yên. Và cũng từ những ký ức ấy, người ta hiểu vì sao trong mỗi gia đình Việt Nam, trên bàn thờ tổ tiên, những bát cơm trắng luôn là lễ vật không thể thiếu.
Quê hương Phúc Xá của Nguyễn Phú Vỵ ngày trước nằm ở bãi giữa sông Hồng. Ông vẫn nhớ ngôi nhà cũ của gia đình khi ấy. Sau những lần nước lớn, lũ lụt và sạt lở, gia đình chuyển vào phía trong đê, thuộc địa giới phường Ngọc Thụy ngày nay.
Điều đặc biệt là trong số những thanh niên làng Phúc Xá năm ấy lên đường đánh giặc, còn có người em họ của Nguyễn Phú Vỵ là Nguyễn Phú Xuyên Khung. Sau này, người em họ ấy trở thành Đại tá và được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tá Nguyễn Phú Xuyên Khung là người chỉ huy đào hào để bộ đội ta đặt khối bộc phá gần 1.000kg, điểm hỏa trên đồi A1 vào đêm trước ngày chiến thắng. Trong dòng họ Nguyễn Phú, Nguyễn Phú Vỵ là anh con bác ruột, còn Nguyễn Phú Xuyên Khung là em con chú. Hai người cùng quê, cùng một dòng họ và cùng khoác lên mình màu áo lính, rồi cùng ghi dấu tuổi trẻ ở những chiến trường khốc liệt nhất.
Chiến tranh kết thúc, hai người lính trở về quê hương và tiếp tục một cuộc đời cống hiến theo cách khác. Khi còn khỏe, các cụ vẫn làm vườn, phụ giúp con cháu và tham gia xây dựng quê hương. Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Phú Vỵ còn là người đầu tiên tham gia thành lập Hội Cựu chiến binh phường Ngọc Thụy. Ông thường xuyên trò chuyện với học sinh, thanh niên, kể lại những năm tháng chiến đấu để thế hệ sau hiểu hơn và thêm tự hào về lịch sử của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Hơn 100 tuổi đời, 78 năm tuổi Đảng, Nguyễn Phú Vỵ đã dành gần như trọn cuộc đời mình cho quê hương và đất nước. Những lời hứa mà ông từng nói với đồng đội, với gia đình và với chính mình đã theo ông qua chiến trường, qua những lần bị thương, qua những cuộc chia ly và cả những năm tháng hòa bình.
Trong gia đình ông, truyền thống ấy tiếp tục được trao lại cho các thế hệ sau. Các con, cháu, chắt đều nỗ lực học tập, công tác và trưởng thành. Người con gái Nguyễn Thị Thanh của cụ cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và nghỉ hưu với quân hàm Đại tá. Một người cháu nội hiện vẫn đang phục vụ trong Quân đội.
Từ chàng thanh niên Phúc Xá năm nào khai tăng tuổi để được nhập ngũ đến người Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân ở tuổi bách niên, cuộc đời Nguyễn Phú Vỵ dường như được nối dài bằng một điều giản dị: đã hứa thì nhất định phải giữ lời. Và chính những lời hứa được giữ trọn qua chiến tranh đã làm nên một người lính mà ký ức về ông vẫn tiếp tục “tiếp lửa” cho những thế hệ hôm nay.



