lời kể nghẹn ngào của bà ngoại.
lời kể nghẹn ngào của bà ngoại.
Trần Hoàng Bảo Ngân
ĐỀ TÀI: CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
Trong cuộc sống luôn có những khoảng cách không thể đo đạc được bằng số liệu, mà nó phải dùng tới sự tiếc nuối để tính toán ra.Với tôi, khoảng cách đó có lẽ là giữa tôi và ông ngoại, người mà tôi cả đời này cũng không có cơ hội gặp mặt.
Tôi được sinh ra vào một ngày cuối tháng 12 buốt giá, khi mà những chiếc lá bên đường đã rụng rơi vì gió mùa kéo tới. Tôi đã từng ngỡ tưởng rằng, sự ra đời của mình là “vừa đúng lúc” để đón năm mới cùng gia đình, nhưng mãi tới khi trưởng thành hơn một chút, tôi mới nhận ra khoảnh khắc đó là sự muộn màng lớn nhất cuộc đời mình. Ngay trước khi tôi cất tiếng khóc chào đời chỉ 22 ngày, ông ngoại tôi - người cha vĩ đại của mẹ tôi, người chồng luôn tận tâm vì gia đình của bà ngoại tôi, người chiến sĩ cách mạng kiên cường chiến đấu của Tổ quốc - đã trút hơi thở cuối cùng sau bao ngày tháng dài đằng đẵng đấu tranh với căn bệnh hiểm ác. Khoảng cách 22 ngày đó không dài, nhưng nó lại là một đại dương xa cách khiến tôi cả đời này chỉ có thể hình dung về ông qua những tấm ảnh phim đã ố vàng và lời kể nghẹn ngào của bà ngoại.
Tôi luôn tự cảm thấy rất may mắn khi được sinh ra và lớn lên trong hòa bình, những thứ bom đạn chiến tranh chỉ có trong mấy trang sách giáo khoa khô khan hoặc phim tài liệu đen trắng. Vậy nhưng, đối với ông ngoại tôi, chiến tranh là mồ hôi xương máu, là cả một thời tuổi trẻ ông gửi lại ở Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Bà ngoại tôi không phải một nhà văn, những gì bà kể cho tôi chỉ là gom nhặt được từ trong ký ức đã sớm phai nhạt của bà, thế nhưng bằng một cách nào đó, tôi vẫn cảm nhận được cái nắng cháy da cháy thịt của miền Trung khi ấy. Bà kể, mùa hè năm ấy, Quảng Trị không có màu xanh của lá cây, chỉ còn màu đỏ của lửa đạn và màu xám xịt của khói bom. Ông tôi khi đó mới chỉ là một chàng trai mười chín đôi mươi, mang theo tâm thế hiên ngang, dũng cảm của bộ đội cụ Hồ để bước vào trận chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ.
Mỗi lần nhắc đến dòng sông Thạch Hãn, giọng bà tôi lại run run. Bà còn nhớ ông từng kể với bà rằng, nước sông Thạch Hãn khi đó không bao giờ trong được, vì bom đạn cày xới và máu của đồng đội ông đổ xuống quá nhiều. Có những đêm hành quân, ông và đồng đội phải ngâm mình dưới nước, cái lạnh thấm vào xương tủy nhưng trái tim ông thì lại nóng như lửa đốt, vì ý chí chiến đấu cho Tổ quốc, cho hòa bình mai sau đang rực cháy bên trong. Bà kể có lần ông bị thương nặng, mảnh đạn găm vào người, đau đến mức chết đi sống lại, tê dại cả đầu óc, nhưng ông vẫn nhất quyết không rời trận địa. Chỉ đến khi không thể chịu được nữa, ông mới ngâm mình vào dòng nước đỏ tươi của sông Thạch Hãn, một tay gạt xác đồng đội nằm lại trên sông, tay còn lại bơi về phía bờ bên kia để tiếp nhận điều trị.
Những ngày tháng thanh xuân của ông, khi mà ông đang ở độ tuổi đẹp nhất, ông đã phải đấu tranh bất khuất tới như vậy, một lòng vì Tổ quốc tới như thế. Vậy mà khi hòa bình đến, ông lại không kể về sự anh dũng đó của mình cho bà, ông chỉ kể về những đêm hành quân không ngủ, về bát cơm bát canh chia nửa với đồng đội, và kể về lời hứa “nhất định sẽ quay trở về” của mình. Ông giữ lời hứa, ông đã quay trở lại từ làn mưa bom bão đạn trong mùa hè tàn khốc năm đó, chỉ là vết thương do mảnh đạn gây ra đã như một bóng ma vô hình, bám lấy ông cho đến mãi sau này.
Bà cũng kể với tôi, vào những ngày cuối cùng của ông, ông nằm trên giường bệnh, dù hơi thở đang yếu dần đều, ông vẫn không quên hỏi tôi đã chào đời chưa, liệu ông có thể gặp tôi, có thể bế bồng đứa cháu đầu tiên của ông không. Ông cứ đếm từng ngày, mong đợi từng giây từng phút, nhưng cuối cùng vẫn là không thể. Ông trút hơi thở cuối cùng khi mà tôi vẫn còn 22 ngày nữa mới có thể nhìn thấy ánh mặt trời. Con số định mệnh 22 ngày ấy đã ngăn cản một cuộc gặp gỡ mà tôi nghĩ rằng nó sẽ là khoảnh khắc đẹp nhất trong cuộc đời tôi.



