Lời nói cuối cùng từ đồng đội
Trận chiến khốc liệt tại chiến trường nước bạn Lào
Mùa khô 1972 – 1973, tình hình chiến sự vùng Salavan (Nam Mua -Lào) diễn biến phức tạp, gay go và quyết liệt. Cuối tháng 10/1972, địch dùng trực thăng đổ bộ 2 GM (GM41, GM42) xuống đánh chiếm Salavan vừa nhằm giải tỏa Không Sêđôn đang bị ta vây ép, vừa để thu hẹp vùng giải phóng của ta, đồng thời kết hợp với Sêđôn, Sênô tạo thành phòng tuyến chia cắt Trung Lào với Hạ Lào. Đầu năm 1973 chiến sự càng ác liệt hơn, ta và địch giành nhau từng đoạn đường, từng ngọn đồi, tấc đất nhằm tạo lợi thế trước khi Hiệp định Viêng Chăn về Lào được kí kết. Kẻ địch nham hiểm thực hiện lối đánh giằng co, tránh đụng độ lớn. Khi ta đánh vào trung tâm thị xã thì chúng rút ra ngoài, rồi từ ngoài đánh úp vào, cứ thế lặp đi lặp lại. Mặt khác, chúng dùng quy mô tiểu đoàn hoặc đại đội hoạt động phân tán ở vòng ngoài nhằm ngăn chặn từ xa sự tiến công của ta, sử dụng tối đa ưu thế của phi pháo gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất. Với cách thức đó, chúng âm mưu kéo dài thời gian chiếm đóng cho đến ngày đình chiến. Chính vì vậy, mà chiến dịch giải phóng Salavan diễn ra quyết liệt và kéo dài 128 ngày đêm. Những trận đánh ngoài công sự giữa ta và địch xảy ra thường xuyên, liên tục, có ngày phải đánh từ hai đến ba trận. Điều kiện vật chất: đạn, gạo thiếu, nước ăn uống, tắm giặt vô cùng khan hiếm, chấy rận đầy người… là chuyện thường tình trong những ngày đó. Và chính trong những ngày cam go, ác liệt đó, tôi đã mất đi một người đồng đội thân thiết. Anh ngã xuống khi đang độ tuổi đôi mươi, khi chỉ còn hơn một tháng nữa là chiến tranh kết thúc.
Vào một ngày giữa tháng 12/1972, một trận đánh quyết liệt giữa đại đội tôi với một đại đội địch đã xảy ra trên cánh đồng ven rừng, sát bản Nậm Thèng – một vị trí quan trọng án ngữ phía đông nam thị xã Salavan.
Được tin của đài quan sát báo về: Quân địch từ hướng sân bay Salavan đang hành quân vượt cánh đồng tiến thẳng vào cánh rừng nơi chúng tôi tập kết. Ban chỉ huy Đại đội lập tức triển khai phương án tác chiến. Trừ một trung đội giữ chốt, hai trung đội còn lại được chia làm hai mũi xuất kích ra sát bìa rừng chờ địch. Sau mấy tháng chiến đấu liên tục, quân số của đơn vị đã bị hao hụt khá nhiều. Cũng may, hôm đó có Phạnh và Phước là trinh sát của tiểu đoàn đi cùng nên đơn vị có thêm được hai tay súng.
Khi tốp đi đầu của địch cách đài quan sát khoảng chừng 10m, tôi lệnh cho cả đại đội nổ súng. Sau loạt đạn đầu tiên, khoảng một chục tên địch chết ngay tại trận. Bị đánh bất ngờ, địch hoảng hốt bò sát các bờ ruộng, bắn loạn xạ. Khi định thần trở lại, chúng tổ chức phản kích mãnh liệt, hết đợt này đến đợt khác, cả cánh đồng và rừng Nậm Thèng vang rền tiếng súng. Quân địch dùng M79, súng cối và tên lửa vác vai M72 bắn phá dữ dội, đồng thời gọi máy bay T28 đến ném bom sát thương vào chốt Nậm Thèng và ném bom napan vào đội hình chiến đấu của quân ta, nhưng rất may đều trượt ra phía sau. Đất trời mịt mù khói lửa và cát bụi, cây cối tan tác, ngả nghiêng. Trước tình hình đó, tôi lệnh cho B41 diệt bằng được tên lính mang máy 1,5W để cắt đứt liên lạc của địch và cho đơn vị khép chặt gọng kìm, tiếp tục tấn công. Tiếng AK nổ giòn đanh thép, đạn cối 60, B40, B41 nổ trùm lên đội hình quân địch. Với bản lĩnh của lính trinh sát, Phạnh và Phước mưu trí ngoan cường, nổ súng chính xác, làm cho sức mạnh của mũi chiến đấu tăng lên rất nhiều. Bỗng một tiếng nổ vang như sét đánh, một quả đạn cối trúng vào vị trí của các anh. Phước hy sinh ngay tại chỗ, còn Phạnh bị mảnh cối cắt ngang cả hai đùi, máu chảy như xối. Phạnh không kịp băng bó, cứ thế bò rướn đến bên đồng đội, hô to: “Bắn mạnh lên các xiều ơ… ơ… ơi”. Lúc này thấy địch đã bắt đầu nhốn nháo, tôi phát lệnh xung phong. Quân ta anh dũng xông lên, địch hốt hoảng tháo chạy, để lại hơn 20 tên phơi xác trên cánh đồng Nậm Thèng.
Sau khi làm chủ trận địa, đơn vị thu dọn chiến trường. Thương binh, tử sĩ được đưa về con suối cạn nơi đơn vị trú quân. Phạnh cũng được đưa về bên các đồng đội. Nhìn khuôn mặt tái mét vì mất máu quánhiều cùng đôi chân gãy lìa của Phạnh, trái tim tôi thắt lại. Tôi giục y tá băng bó ngay cho anh, nhưng Phạnh xua tay. Đôi mắt sáng trên gương mặt người chiến sĩ có dáng vẻ thư sinh ấy bình thản nhìn tôi và đồng đội xung quanh, không hề lộ vẻ đau đớn. Bỗng Phạnh cất tiếng trong hơi thở yếu dần: “Địch đã rút chạy chưa anh?”. “Chúng chạy hết rồi” – Tôi nghẹn ngào trả lời mà không biết làm gì hơn. Phạnh đưa mắt nhìn một lượt các đồng đội của mình, nấc lên một tiếng rồi ra đi, một chuyến đi không có ngày trở lại.
Hoàng hôn xuống dần, màn đêm từ từ buông kín Nậm Thèng. Nơi đây, chiến sĩ ta vừa trải qua một trận đánh với nhiều mất mát, hy sinh.
Gần 50 năm đã trôi qua, lời nói cuối cùng Phạnh vẫn vang mãi trong tôi. Day dứt thay, anh đã không kịp nhắn gửi một điều gì đó về Kỳ Trinh, Kỳ Anh quê hương. Anh chỉ nghĩ đến cuộc chiến đấu trên đất này, ngay cả khi biết mình không thể sống được nữa.
Ngày đất nước ca khúc khải hoàn, Phạnh và biết bao đồng chí không có mặt, thậm chí có người mãi mãi không bao giờ được trở về đất mẹ. Nhưng những gì các anh đã cống hiến cho Tổ quốc là vô cùng lớn lao. Xương máu các anh đổ xuống đã tô thắm thêm trang sử vàng của dân tộc và màu xanh bất diệt cho hai nước Việt – Lào hôm nay.


