Cựu chiến binh

Lời thề dưới bòng cờ

Có những người lính, khi Tổ quốc cần, họ lên đường với tâm thế nhẹ tênh, mang theo cả tuổi thanh xuân gửi vào ba lô, tiến về phía khói lửa. Ông Đỗ Công Chất là một người lính như thế. Sinh năm 1950, khi đất nước còn chìm trong chia cắt, chàng trai trẻ quê hương Đào Xá đã nuôi dưỡng trong mình một ý chí sắt đá về ngày độc lập.

Phú Thọ09/05/2026Nguyễn Văn Bảo (đoàn trường THPT Thanh Thuỷ- Đoàn xã Thanh Thuỷ)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Lời thề dưới bòng cờ

Ngày 23/4/1970, khi cái nắng cuối xuân rải nhẹ trên vùng đất Tân Thắng, Đào Xá, chàng thanh niên Đỗ Công Chất chính thức khoác lên mình màu áo xanh người lính. Ông được biên chế vào Đại đội 3, Tiểu đoàn 18, Quân khu Việt Bắc.

Ba tháng huấn luyện tại vùng núi cao phía Bắc là quãng thời gian rèn quân kỷ, luyện ý chí. Dưới cái nắng cháy da và những bài tập hành quân rã rời, ông cùng đồng đội đã chuẩn bị một tinh thần thép để bước vào chiến trường miền Nam – nơi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở giai đoạn cam go, quyết liệt nhất.

Lễ xuất quân diễn ra trong không khí thiêng liêng và hừng hực khí thế. Hành trang của người lính trẻ khi ấy thật giản đơn nhưng nặng trĩu nghĩa tình non nước: một khẩu AK vững chắc trên vai, hai băng đạn đầy, một bao gạo, hai bộ quân áo, chiếc mũ cối và tấm võng dù – vật bất ly thân của người chiến sĩ.

Cuộc hành quân "vạn lý trường chinh" bắt đầu. Để vào đến mặt trận B3 (Tây Nguyên), ông và đơn vị phải băng qua đất bạn Lào. Những ngày dài đằng đẵng "đêm đi, ngày nghỉ" hoặc có lúc phải hành quân cả ngày lẫn đêm để kịp thời cơ chiến dịch. Đôi chân ấy đã đạp bằng bao dốc thẳm, vượt qua bao con suối lũ. Dưới tán lá rừng già, mỗi khi tạm dừng chân, chiếc võng dù lại trở thành "ngôi nhà" di động, che chở những giấc ngủ chập chờn giữa tiếng bom cầm canh của kẻ thù.

Đặt chân đến chiến trường Tây Nguyên (mặt trận B3), ông Đỗ Công Chất và đồng đội đối mặt với những thử thách nghiệt ngã nhất. Tây Nguyên không chỉ có cái nắng cháy người, bụi đỏ mù mịt mà còn là nơi diễn ra những trận đánh ác liệt để giành giật từng tấc đất, điểm cao.

Cuộc sống của người lính tại đây gắn liền với những căn hầm chữ A, những công sự chiến đấu âm thầm dưới lòng đất. Gian khổ không chỉ đến từ làn mưa bom bão đạn của kẻ thù mà còn từ những cơn sốt rét rừng ngã nước, từ những bữa cơm thiếu rau xanh, những cơn khát cháy họng mùa khô. Nhưng, như loài hoa dã quỳ kiên cường trên đất đỏ, ông và đồng đội vẫn bám trụ, giữ vững trận địa, viết nên những trang sử vẻ vang cho mặt trận B3 hùng vĩ.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, ông vẫn tiếp tục cống hiến cho quân đội thêm một thời gian. Đến tháng 8/1976, người chiến sĩ Đỗ Công Chất chính thức rời quân ngũ, hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng với Tổ quốc để trở về với đời thường.

Giờ đây, khi nhìn lại những năm tháng "nếm mật nằm gai", có lẽ ông không nhớ hết mình đã đi qua bao nhiêu cung đường, tham gia bao nhiêu trận đánh, nhưng ký ức về tình đồng đội chia ngọt sẻ bùi trong hầm tối, về những ngày hành quân xuyên Lào, vẫn mãi vẹn nguyên.

Câu chuyện của ông Đỗ Công Chất không chỉ là hồi ức cá nhân, mà là hiện thân của một thế hệ anh hùng. Ông trở về với cuộc sống bình dị, mang theo trong tim ngọn lửa ấm áp của người lính Cụ Hồ - một "điểm tựa" tinh thần vững chãi cho con cháu, để thế hệ mai sau luôn tự hào và biết ơn những người đã hiến dâng tuổi trẻ cho độc lập, tự do của dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn