Anh hùng Lực lượng vũ trang

LỜI THỀ DƯỚI HOÀNG BÀO

Một ngày mùa thu năm 1862, không khí tại bản doanh nghĩa quân Gò Công căng như dây đàn. Chiếu thư từ kinh đô Huế được vị sứ giả run rẩy đọc lên: Vua lệnh cho Trương Định phải bãi binh, giao ba tỉnh miền Đông cho Pháp và đi nhậm chức ở An Giang. Lệnh vua như thòng lọng siết chặt lòng người nghĩa sĩ. Trương Định đứng lặng yên, tay nắm chặt chuôi gươm, đôi mắt nhìn ra khoảng sân rộng, nơi hàng ngàn người dân và nghĩa binh đang quỳ gối, đôi mắt họ đỏ hoe nhưng đầy kiên định.

Đồng Tháp25/08/2026xã Tân Phước 2 (Xã Tân Phước 2)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

LỜI THỀ DƯỚI HOÀNG BÀO 

Một ngày mùa thu năm 1862, không khí tại bản doanh nghĩa quân Gò Công căng như dây đàn. Chiếu thư từ kinh đô Huế được vị sứ giả run rẩy đọc lên: Vua lệnh cho Trương Định phải bãi binh, giao ba tỉnh miền Đông cho Pháp và đi nhậm chức ở An Giang. Lệnh vua như thòng lọng siết chặt lòng người nghĩa sĩ. Trương Định đứng lặng yên, tay nắm chặt chuôi gươm, đôi mắt nhìn ra khoảng sân rộng, nơi hàng ngàn người dân và nghĩa binh đang quỳ gối, đôi mắt họ đỏ hoe nhưng đầy kiên định.

Một bà lão bước lên, trên tay nâng chiếc khay gỗ đựng tấm hoàng bào thêu bốn chữ lớn: "Bình Tây Đại Nguyên Soái". Bà lão nghẹn ngào: "Xin chủ tướng ở lại cứu dân! Lệnh vua ở xa, lòng dân ở gần!" Trương Định nhìn dòng lệ của quốc dân, rồi nhìn thanh gươm báu. Ông hiểu rằng, đi theo lệnh vua là phản bội lại giọt nước mắt của quê hương. Không chần chừ thêm nữa, ông bước tới, khoác tấm hoàng bào lên vai, rút gươm chỉ thẳng lên trời cao: "Triều đình có thể hàng giặc, nhưng Trương Định và nhân dân Gò Công thì không!" Tiếng reo hò vang động cả một góc trời, thắp lên ngọn lửa kháng chiến bất diệt./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn