“Lời thề máu giữa đại ngàn”
Giữa lúc chiến sự thế giới chuyển biến, quân Đồng minh phản công mạnh ở Thái Bình Dương, phong trào cách mạng tại Ba Tơ khẩn trương củng cố lực lượng, lập Tỉnh ủy lâm thời và chuẩn bị căn cứ du kích. Trở lại vùng Giá Vụt, người cán bộ cách mạng gặp già làng Kiêu, cùng bàn kế lợi dụng thời cơ Nhật – Pháp mâu thuẫn để nổi dậy. Trước núi rừng thiêng liêng, hai bên uống rượu hòa máu ăn thề, kết nghĩa Kinh – Thượng đồng lòng đánh giặc, giữ bí mật và xây dựng căn cứ. Lời thề ấy trở thành sợi dây gắn k
| Cuộc phản công của lực lượng Đồng minh vào khu vực Thái Bình Dương phát triển nhanh. Ngày nào tàu bay Mỹ cũng lượn trên bầu trời, ném bom vào những nơi Nhật đóng quân. Ngoài biển tàu Nhật trúng bom bốc cháy, khói đen theo gió mang mùi dầu khét lẹt lên tận Ba Tơ. Trên chiến trường thế giới, phát xít đang lâm vào thế bị động. Trước tình hình đó, chi bộ họp quyết định chuyển Ủy ban vận động cứu quốc thành Tỉnh ủy lâm thời, cử đồng chí Trương Quang Giao làm bí thư. Thế là sau một tháng ngã bệnh tưởng không qua khỏi phải đưa về nhà thương tỉnh chạy chữa, vừa ra viện trở lại Ba Tơ đồng chí Trương Quang Giao bắt tay ngay vào việc. Lúc này địch đưa các đồng chí Khế (túc Trần Quý Hai), Trần Khuy (túc Trần Nam Trung) lên an trí Ba Tơ. Tỉnh ủy có thêm lực lượng mới. Sau khi kiểm điểm những công việc đã làm được, phân tích tình hình trong tỉnh và trên thế giới, lường trước những khó khăn thuận lợi, hội nghị quyết định: Trong điều kiện còn có thể kiên quyết bảo vệ, duy trì trung tâm chỉ đạo phong trào tại Ba Tơ, dựa vào họ xây dựng căn cứ du kích bí mật, khi cần thoát ly tập thể. Tiếp tục vận động đồng bào Thượng ủng hộ cách mạng Ba Tơ, dựa vào họ xây dựng căn cứ du kích bí mật, khi cần thoát ly tập thể bắt tay ngay vào hoạt động, không để phong trào gián đoạn. Liên lạc với căng an trí Gi Lăng để phối hợp hành động, bằng mọi cách chắp nối với Xứ ủy và Trung ương để nhận chỉ thị mới... Một núi công việc đặt ra trước mặt chừng ấy con người. Nhưng như con sông con suối tự tìm dòng chảy trong lòng đất, tất cả chúng tôi tỏa ra, mỗi người lo một việc. Anh Giao chịu trách nhiệm chỉ đạo chung. Tôi, anh Kiệt lo xây dựng căn cứ du kích trong đồng bào Thượng. Anh Khế, anh Khuy phụ trách việc huấn luyện cán bộ cơ sở. Để đảm bảo có tài chính cho Đảng, chúng tôi bán nhà, bán trại tằm ở Dốc Mốc. Lấy cớ vừa mới lên cần chỗ ăn, chỗ ở, anh Khế, anh Khuy đã dựng ngôi nhà ở vườn ông Tài, cách Hoàng Đồn gần cây số để làm nơi in ấn tài liệu, hội họp của tỉnh ủy và chỗ đi về của cán bộ cơ sở lên dự huấn luyện. Thời kỳ này sau vụ thu hoạch, lúc nông nhàn, các chị thu xếp lên thăm chồng, một số cán bộ cơ sở trà trộn vào đây theo lên dự các lớp huấn luyện. Ngoài việc tiếp tế những thứ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày, các chị còn mang theo tin tức về tình hình cơ sở, cung cấp giấy mực, vải vóc, rau câu làm nguyên liệu in tài liệu. Những ngày ở lại với chồng, các chị nghe dặn dò cách giữ bí mật, cách cất giấu tài liệu trên đường đi, nếu chẳng may bị bắt thì phải có gan chịu mọi đòn tra tấn để bảo vệ cơ sở. Chúng tôi còn rất ít thời gian để âu yếm nhau. Qua các chị, những chỉ thị của Tỉnh ủy lâm thời bay về đến từng cơ sở. Các đồng chí trung kiên như Mai Quang Định, Trần Hải được phái đi bắt liên lạc với anh em ở căng an trí Gi Lăng và các cơ sở huyện Bình Sơn. Kẻ địch không sao ngờ được, sau cái vẻ bình lặng của cuộc sống thường nhật, ngọn lửa cách mạng đang lan tỏa khắp nơi chờ ngày bùng lên thiêu cháy bọn chúng. Mùa đông năm ấy, tôi trở lại Giá Vụt. Lần này chúng tôi đi trong mưa dầm gió bấc, giữa những con lũ rừng. Hôm vượt sông Giá Vụt, chúng tôi phải ôm mỗi người một thân cây bơi xuôi theo dòng nước, để tấp sang bờ bên kia rồi bám vào lau sậy leo lên dốc đứng tìm đường về buôn Già Kiêu. Gặp lại tôi ông mừng lắm. - Sao lâu rồi, nay người anh em an trí tà-pọt mới lên. Tao trông đỏ hai con mắt. Ông kể cho tôi nghe Tâỵ bắt dân các làng đi xâu, làm lại con đường đi Gi Lăng đi Kom Plông sang Măng Bút, sửa lại sân bay Vi Ranh, tàu bay Mỹ đổ xuống đó mấy lần. - Người của tao đi xem về nói "Mỹ giống Tây lắm, ngực nó đỏ, đầy lông lá". Tôi lựa lời kể cho ông hiểu những thay đổi tình hình. - Trước sau gì rồi Nhật cũng thua quân Đồng minh. Nhưng trước khi đầu hàng Đồng minh, Nhật sẽ lật Pháp ở Đông Dương. Ta lợi dụng thời cơ đó nổi dậy đánh Nhật, đuổi Tây. Thời gian gấp lắm. Kinh Thượng phải hợp sức lại mới giết được thằng giặc, giành lại cái suối cái sông, cái rừng cái rẫy, cái ruộng cho người mình. - Gió! Gió! (Phải! Phải). Già Kiêu gật đầu - Ông già im lặng một lúc, rồi nhìn tôi nói - Nghe cái miệng mày nói, cái bụng tao ưng lắm, con trai tao cũng ưng. Nhưng tao già rồi, không căng nổi dây ná, không phóng nổi cái mác đi xa, còn con tao sợ cái ná, cái mác không đánh lại thằng giặc có cái súng nhỏ, súng to. Cho nên tao sẽ giúp người anh em an trí cái gạo, cái muối để ăn, cái chỗ để lính ở đánh giặc. - Ông định cho chúng tôi ở đâu? Đường vào có khó không? Già Kiêu kéo tôi ra đầu tra, chỉ tay về mấy dãy núi cao đã phủ sương chiều: - Từ đây đến đó gần một ngày đường leo qua nhiều đèo, nhiều dốc, có chỗ phải bò bằng hai tay. Trâu bò đến đó phải đi vòng xa theo đường khác, ở đấy có vùng lúa nước, cấy hai vụ, lúa đủ nuôi bảy tám chục con người cả năm. Lần trước mày về rồi, tao sai bọn cai nhà tao đwa trâu lên giẫm thối cỏ, cây lúa. Thóc thu được làm chòi để luôn ngoài đó với mấy gùi muối. Tôi nắm chặt tay ông: - Người cộng sản an trí rất biết ơn ông. Người Kinh, người Thượng bây gia có chung cái bụng thù giặc Tây. - Gió! Gió (Đúng! Đúng). Tôi tiếp: - Việc cầm quân đánh giặc người an trí chúng tôi chịu hết, thóc muốn có ông giúp đỡ. Nhưng ông nên chọn những trai làng khỏe mạnh góp vào để chúng tôi dạy nó cùng nhau đánh giặc. - Gió! Gió! (Đúng! Đúng!). Lũ nó còn dẫn đường nữa chứ. Người anh em an trí ở dưới xuôi không quen đường rừng đâu. - Ông là già làng nên khuyên dân giữ bí mật, trước nhà cắm "lá dâu" "dấu hiệu cấm người lạ vào nhà", ai đến không cho vào, ai hỏi gì chỉ nói "ú tân, ú nó, ú ní" (không nghe, không thấy, không biết). - Việc đó tao làm được, người anh em an trí tin tao, tao tin người anh em an trí. Già Kiêu với tay lấy chai ruợu, đặt cái bát ra giữa, rút con dao ở vách nứa. Khuôn mặt nghiêm trang, giọng trầm đục, ông vừa rót rượu vào bát rồi nói: - Để giữ cái bụng thương nhau, không ai được phản, hôm nay chúng ta uống máu ăn thề trước trời đất. Ông đưa ngón tay trỏ ra, lấy dao cắt cho máu nhỏ từng giọt vào bát rượu, rồi cắt một nhúm tóc ở đỉnh đầu quấy vào đấy. Xong ông đưa dao cho tôi. Tôi sửa lại thế ngồi nghiêm trang, cầm con dao cắt ngón tay mình cho máu hòa vào bát rượu. Già Kiêu bưng bát rượu bằng cả hai tay nâng lên ngang trán, mặt ngẩng cao đọc lời thề "Xói! Xói! Trác bò rầy” (Xin thề! Xin thề! Với trời đất...). Ông ngửa cổ uống nửa bát rượu, rồi trao cho tôi. Tôi cũng làm như ông và đọc lời thề "Chúng tôi, người Kinh, người Thượng đồng lòng đánh giặc giành đất nước. Ai phản bội sẽ bị tội chết". Ông già ngồi im lặng nhìn tôi. Xong tiệc rượu thề, Già Kiêu lấy một đồng tiền thời Minh Mạng đúc bằng đồng bẻ đôi đưa tôi một nửa, còn nửa kia ông bỏ vào túi bùa bảo mạng đeo trên cổ mình và một con dao nhỏ. - Sau này mày không lên được, người khác đi thi phải đưa con dao này tao mới tiếp và đưa nửa đồng tiền để tao đậu lại đúng như một hào mới tin. Tôi gật đầu lấy khăn tay gói chặt nửa đồng tiền vào túi. |



