Lời Thề Mê Linh 14–43
Tái hiện trang sử hào hùng và bi tráng của Hai Bà Trưng (14–43): Từ tiếng trống đồng Mê Linh dựng nền độc lập đến khí tiết bất khuất trên dòng Hát Giang.

Mùa xuân năm Canh Tý (năm 40), tiếng trống đồng Mê Linh rền vang khắp cõi Giao Chỉ, mở đầu cho cuộc khởi nghĩa lật đổ ách đô hộ bạo tàn của nhà Đông Hán do Thái thú Tô Định cầm đầu. Đứng đầu ngọn cờ tụ nghĩa là Trưng Trắc và người em gái Trưng Nhị – hai con gái của Lạc tướng đất Mê Linh.
Sử cũ ghi lại, nguồn cơn dấy binh không chỉ vì nỗi uất hận của muôn dân dưới sưu cao thuế nặng và chính sách đồng hóa khắc nghiệt, mà còn vì mối thù riêng: Thi Sách, chồng của bà Trưng Trắc, bị Tô Định mưu sát nhằm răn đe các thủ lĩnh Lạc tướng bản địa. Thay vì gục ngã trước mất mát, Trưng Trắc gác lại khăn tang, khoác lên mình chiến bào giáp phục. Bà hiểu rằng trước hàng quân, người chỉ huy không thể mang dáng vẻ của sự tang tóc, đau thương, mà phải là biểu tượng của ý chí quật cường. Lời thề xuất quân vang vọng non sông:
Một xin rửa sạch nước thù,
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng,
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này.
Chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quân tiến như vũ bão. Lạc dân từ khắp Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng các nữ tướng hưởng ứng tụ nghĩa. Quân Trưng Nữ Vương hạ liền 65 thành trì, Tô Định phải cắt tóc cạo râu trốn chạy về phương Bắc. Trưng Trắc lên ngôi vua, xưng là Trưng Nữ Vương, định đô tại Mê Linh và lập tức ra lệnh miễn thuế hai năm cho muôn dân để khôi phục lại cuộc sống sau chuỗi ngày cùng cực.
Nhưng nền độc lập non trẻ chưa kịp đứng vững thì mùa xuân năm Nhâm Dần (năm 42), Hán Quang Vũ Đế cử danh tướng Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, thống lĩnh đạo quân thiện chiến gồm hai vạn thủy bộ binh và hai nghìn thuyền chiến sang đàn áp.
Trận chiến Lãng Bạc nổ ra vô cùng khốc liệt. Quân Mê Linh chiến đấu quả cảm, nhưng lực lượng nghĩa quân xuất thân phần lớn là nông dân, thiếu kinh nghiệm tác chiến quy mô lớn và vũ khí giáp trụ không đồng đều trước đạo quân viễn chinh nhà Hán. Khí hậu nóng ẩm lam chướng bủa vây cả hai bên, song trước sức ép của quân Mã Viện, Hai Bà Trưng buộc phải lui quân về giữ Cấm Khê (vùng Ba Vì, Hà Nội ngày nay).
Tại Cấm Khê, giao tranh kéo dài suốt nhiều tháng trời từ cuối năm 42 sang đầu năm 43. Lương thảo cạn kiệt, viện binh bị cô lập, nhưng Hai Bà Trưng cùng các binh sĩ kiên quyết không lùi bước, đánh trả đến từng mũi tên, ngọn giáo cuối cùng.
Đến ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão (năm 43), thế trận vỡ, vòng vây quân thù khép chặt. Đứng trước sự truy đuổi gắt gao của giặc, quyết không để thân mình và khí tiết dân tộc rơi vào tay kẻ xâm lăng, Trưng Trắc và Trưng Nhị đã quay đầu về phía dòng sông Hát (sông Đáy ngày nay), gieo mình xuống dòng nước cuộn chảy để tuẫn tiết, giữ trọn vẹn phẩm giá và lời thề non nước.
Sự hy sinh kiên trinh của Hai Bà Trưng trên dòng Hát Giang đã khắc sâu vào ký ức dân tộc Việt Nam như một tượng đài bất tử về tinh thần tự chủ, mở đầu cho truyền thống kiên cường bất khuất của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước.



