LỜI THỀ TRÊN CỬA BIỂN CỦA ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN TRỖI
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh và công nhân tại các đô thị miền Nam diễn ra vô cùng sôi nổi và quyết liệt. Giữa lòng Sài Gòn bị chiếm đóng, có một người thanh niên nghèo, làm nghề thợ điện nhưng mang trong mình một trái tim yêu nước nồng nàn và một ý chí kiên cường, bất khuất. Người thanh niên ấy chính là Nguyễn Văn Trỗi, quê ở làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
LỜI THỀ TRÊN CỬA BIỂN CỦA ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN TRỖI
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh và công nhân tại các đô thị miền Nam diễn ra vô cùng sôi nổi và quyết liệt. Giữa lòng Sài Gòn bị chiếm đóng, có một người thanh niên nghèo, làm nghề thợ điện nhưng mang trong mình một trái tim yêu nước nồng nàn và một ý chí kiên cường, bất khuất. Người thanh niên ấy chính là Nguyễn Văn Trỗi, quê ở làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, anh Trỗi vào Sài Gòn từ sớm để mưu sinh và làm thợ điện tại nhà máy điện Chợ Quán. Tại đây, anh chứng kiến cảnh áp bức bóc lột dã man của quân xâm lược đối với đồng bào mình. Quyết không chịu khoanh tay đứng nhìn, anh sớm tham gia vào tổ chức biệt động Sài Gòn, bí mật hoạt động trong lòng địch với nhiệm vụ trinh sát và thực hiện các trận đánh hiểm hóc ngay giữa sào huyệt của đối phương.
Tháng 5 năm 1964, nhận được thông tin Phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu sẽ đến Sài Gòn để vạch kế hoạch tăng cường chiến tranh xâm lược miền Nam. Nguyễn Văn Trỗi đã chủ động xin nhận nhiệm vụ đánh bom mưu sát McNamara tại cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, TP. Hồ Chí Minh) – tuyến đường độc đạo mà phái đoàn Mỹ bắt buộc phải đi qua từ sân bay Tân Sơn Nhất vào trung tâm thành phố.
Anh đã bí mật mua sắm vật liệu, tự tay thiết kế quả mìn định hướng nặng gần 10kg để gài dưới chân cầu. Tuy nhiên, vào đêm ngày 9 tháng 5 năm 1964, khi anh đang cùng đồng đội tiến hành lắp đặt hệ thống dây điện kích nổ cuối cùng thì bất ngờ bị tai nạn rò rỉ thông tin, lực lượng cảnh sát mật vụ Sài Gòn ập đến bao vây. Để bảo vệ đồng đội và tổ chức, anh Trỗi đã chủ động thu hút sự chú ý của địch về phía mình và bị bắt giữ ngay tại trận địa.
Sau khi bị bắt, chính quyền Sài Gòn và cố vấn Mỹ đã dùng mọi cực hình tra tấn dã man nhất đối với anh, từ sốc điện, đóng đinh vào tay đến đánh đập tàn nhẫn hòng tìm ra đầu mối của tổ chức biệt động. Nhưng trước những đòn roi tra tấn chết đi sống lại, Nguyễn Văn Trỗi vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng, anh không hé môi nửa lời, một mực nhận hết trách nhiệm về mình.
Biết không thể khuất phục được anh bằng đòn roi, địch chuyển sang mua chuộc bằng tiền tài, danh vọng và hứa hẹn sẽ thả tự do nếu anh chịu ký vào đơn ly khai cách mạng. Anh Trỗi đã thẳng thừng nhổ nước bọt vào mặt tên sĩ quan thẩm vấn và đanh thép tuyên bố: “Chính Mỹ mới là kẻ xâm lược đất nước này, ta giết McNamara là việc làm chính nghĩa của người dân Việt Nam. Các người không có quyền xét xử tôi!”.
Sáng ngày 15 tháng 10 năm 1964, chính quyền phát-xít Mỹ - Khánh đã đưa anh Nguyễn Văn Trỗi ra pháp trường tại khám chí hòa để thi hành án tử hình công khai hòng răn đe phong trào đấu tranh của nhân dân. Trước họng súng của quân thù, anh Trỗi từ chối bịt mắt. Anh muốn nhìn thẳng vào những kẻ sắp bắn mình. Anh dõng dạc vạch trần tội ác của đế quốc Mỹ trước sự chứng kiến của các phóng viên báo chí quốc tế. Khi loạt đạn vang lên, anh đã dùng hết sức lực cuối cùng để hô vang ba lần: “Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”. Anh hy sinh khi mới bước sang tuổi 24, vừa cưới vợ được vẻn vẹn hơn 10 ngày.
Cái chết oanh liệt của anh Nguyễn Văn Trỗi tại pháp trường đã gây nên một làn sóng phẫn nộ và chấn động mạnh mẽ trên toàn thế giới. Tên tuổi của anh trở thành ngọn đuốc cổ vũ tinh thần chiến đấu cho hàng triệu thanh niên Việt Nam xông pha ra tiền tuyến với khẩu hiệu: “Sống như Anh”.
Câu chuyện thời hoa lửa của người thợ điện Nguyễn Văn Trỗi là bài ca bất tử về lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, ý chí kiên cường trước kẻ thù, là tấm gương sáng ngời để thế hệ trẻ hôm nay học tập, soi rọi lại trách nhiệm của mình đối với đất nước.



