LỜI THỀ VỚI BÁC HỒ VÀ VIÊN ĐẠN CUỐI CÙNG CỦA “CẬU BÉ THÉP”
Có những người nằm xuống khi tuổi đời vừa tròn hai mươi tám, nhưng tên tuổi của họ đã tạc vào dáng hình sông núi, trở thành khúc ca bất tử cho các thế hệ mai sau. Giữa những năm tháng đất nước rực lửa chiến tranh, có một chàng trai mang trái tim rực cháy lý tưởng, bước đi từ lời thề với Bác Hồ kính yêu đến trận chiến kiên trung giọt máu cuối cùng trên đất Phú Yên. Người anh hùng ấy chính là Nguyễn Kim Vang — người chiến sĩ được đồng đội thương yêu gọi bằng cái tên tự hào: “Cậu bé thép”.

LỜI THỀ VỚI BÁC HỒ VÀ VIÊN ĐẠN CUỐI CÙNG CỦA “CẬU BÉ THÉP”
Có những người nằm xuống khi tuổi đời vừa tròn hai mươi tám, nhưng tên tuổi của họ đã tạc vào dáng hình sông núi, trở thành khúc ca bất tử cho các thế hệ mai sau. Giữa những năm tháng đất nước rực lửa chiến tranh, có một chàng trai mang trái tim rực cháy lý tưởng, bước đi từ lời thề với Bác Hồ kính yêu đến trận chiến kiên trung giọt máu cuối cùng trên đất Phú Yên. Người anh hùng ấy chính là Nguyễn Kim Vang — người chiến sĩ được đồng đội thương yêu gọi bằng cái tên tự hào: “Cậu bé thép”.
Sinh ra trên vùng đất Ba Tơ quật khởi, máu cách mạng đã chảy trong cuống rỡ tuổi thơ của Nguyễn Kim Vang từ người cha du kích. Năm 1954, khi bước chân tập kết ra Bắc, cậu học trò miền Nam bé nhỏ đã may mắn được gặp Bác Hồ. Trước ánh mắt ấm áp của Người, cậu bé Vang dõng dạc cất lời thề từ đáy lòng:
“Thưa Bác, chúng cháu đều quyết tâm học tập thật giỏi, để sau này trở về chiến đấu cùng đồng bào, giải phóng miền Nam!”
Lời hứa ấy không chỉ là cảm xúc bột phát của tuổi thơ, mà trở thành kim chỉ nam cho trọn vẹn một đời cống hiến. Mới 15 tuổi, anh viết đơn bằng máu tình nguyện gia nhập lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang. Từ những đèo cao sương giăng ở biên giới Kỳ Sơn (Nghệ An) đến vùng đất Phú Yên khói lửa, nơi đâu có hiểm nguy, nơi đó có dấu chân anh. Năm 1969, trên cương vị Chính trị viên Đại đội An ninh vũ trang Phú Yên, anh cùng đồng đội lập nên kỳ tích khi bẻ gãy gọng kìm của 2 tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho căn cứ và nhân dân. Kẻ thù mỗi lần nghe danh “Cậu bé thép” lại thêm một lần khiếp đảm.
Thế nhưng, trang sử kiêu hùng nhất cũng là trang sử đau thương nhất. Ngày 26/1/1972, khi phát hiện cơ sở cách mạng tại thôn Liên Trì (xã Bình Kiến, Tuy Hòa) có nguy cơ bị vỡ, Nguyễn Kim Vang không ngần ngại lao vào vùng nguy hiểm để giải cứu cán bộ. Trên đường đi, đơn vị bất ngờ lọt vào vòng phục kích dày đặc của địch.
Trong cơn mưa đạn, anh bị thương nặng. Máu nhuộm đỏ màu áo, nhưng "Cậu bé thép" vẫn không lùi bước. Anh nén đau, kẹp chặt khẩu AK vào nách, xả từng loạt đạn đanh thép về phía kẻ thù để che chắn cho đồng đội rút lui. Khi băng đạn dần cạn, kẻ thù khép chặt vòng vây với ý đồ bắt sống, Nguyễn Kim Vang đã đưa ra lựa chọn đanh thép nhất của người chiến sĩ cách mạng: Viên đạn cuối cùng, anh dành cho chính mình!
Anh nằm xuống giữa lòng đất mẹ Tuy Hòa khi mới 28 tuổi xuân. Sự dã man của kẻ thù khi hèn hạ phơi xác anh giữa nắng mưa để thị uy không hề làm nhụt chí lòng dân. Ngược lại, máu của anh đổ xuống đã biến thành ngọn lửa căm thù, thôi thúc hàng triệu trái tim đứng lên súng đạn, quét sạch giặc xâm lược để giành lấy ngày độc lập.
Hôm nay, đi qua những con đường, những ngôi trường mang tên Nguyễn Kim Vang, chúng ta không chỉ nghiêng đầu trước một danh xưng Anh hùng LLVTND, mà còn cúi đầu tri ân một tuổi trẻ đã sống và hy sinh trọn vẹn cho Tổ quốc. "Cậu bé thép" đã ngã xuống, nhưng lời thề tuổi 15 năm nào vẫn vang vọng giữa mây trời, nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của tự do — một tự do được đánh đổi bằng máu, bằng hoa và bằng cả một thời hoa lửa!



