Lời trần tình của người lính
Tháng 9–1971, chàng trai Vũ Quang Thành nhập ngũ, là lính của Trung đoàn 14 thuộc Tỉnh đội (nay là Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh). Đây là lực lượng bổ sung cho đơn vị chủ lực là Sư đoàn 304, Trung đoàn 9, Tiểu đoàn 3, Đại đội 11, Trung đội 2 (sau này thường gọi là Trung đội Mai Quốc Ca). Tham gia vào Trung đội Mai Quốc Ca khi tuổi thanh xuân mơn mởn với bao hoài bão, khao khát. Người cựu chiến binh hồi tưởng lại, trong ánh mắt không dấu nổi niềm xúc động, nghẹn ngào: “Tham gia trung đội khi ấy có 13 n
Là bởi những tình cảm chân thành, gắn bó ấy nên khoảnh khắc buộc phải chứng kiến từng người đồng chí, đồng đội hy sinh trước mặt mình, đến bây giờ và có lẽ mãi về sau, sẽ luôn là nỗi niềm chất chứa, hằn sâu trong tâm trí ông Thành. Ông rưng rưng kể: “Khi địch điên cuồng xả súng, tôi vừa kịp tìm chỗ trú ẩn sau một đợt xông pha chống trả quyết liệt và bọc lót cho đồng đội. Bất ngờ một thân hình to lớn đổ gục xuống ngay bên cạnh tôi, chỉ kịp nấc lên mấy tiếng rồi hy sinh. Tôi đau đớn ôm lấy thi thể còn ấm nóng, căng trào dòng máu tươi, nhặt lấy những viên đạn cuối cùng của đồng đội rồi tiếp tục lao ra khỏi vị trí, tiến về phía trước, quyết chiến với giặc”.Sau trận đánh ấy, ông bị thương nặng. Địch bắt giữ ông, đưa vào quân y viện Nguyễn Tri Phương - Huế. Tại đây, ông Thành được tiến hành mổ nối ruột và nằm lại điều trị trong khoảng 1 tháng. Sau đó, ông chuyển sang viện Duy Tân (Đà Nẵng), tiếp tục điều trị khoảng 1 tháng rưỡi. Ra viện, ông cùng 60 đồng chí chiến sĩ bị địch tạm giam mấy ngày tại khu vực chân bán đảo Sơn Trà; giam lỏng ở nhà lao Bạch Đằng khoảng 2 tháng với 7 lần hỏi cung. Ông Thành nhớ rất rõ, sau mỗi lần hỏi cung mà không khai thác được gì, quân địch vô cùng tức giận nói với ông: Chúng mày có hai con đường lựa chọn: Một là chấp thuận chiêu hồi thì sẽ nhận được đãi ngộ, được đưa đến sinh sống ở làng chiêu hồi. Hai là ngoan cố thì xác định ở tù hết kiếp. Dẫu biết cảnh tù đày muôn vàn khó khăn, gian khổ; quân địch xảo trá dùng đủ hình thức từ thuyết phục, dụ dỗ cho đến dọa nạt nhưng tự sâu thẳm đáy lòng, ông Thành chưa một lần đắn đo, do dự giữa hai con đường lựa chọn. Lòng tự trọng, ý chí của người lính luôn cất lên câu trả lời đanh thép: “Thà chết, thà chấp nhận bị giam cầm, ngược đãi chứ nhất định không chịu chiêu hồi”. Tinh thần, ý chí, lòng quyết tâm ấy cuối cùng cũng được đền đáp. Ngày 10-3-1973, Hiệp định Paris được ký kết, ông và các chiến sĩ bị tù đày khác được trao trả tự do bên dòng Thạch Hãn và đưa về an dưỡng ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang khoảng 1 năm, trước khi được trở về quê nhà vào tháng 4–1974.Nỗi lòng của một người lính may mắn thoát chết trở về khiến ông Thành vẫn luôn đau đáu nhớ về đồng đội đã ngã xuống. Ông như thầm nhủ với bản thân: “Tôi là chiến sĩ may mắn, may mắn hơn anh em, đồng chí, đồng đội của mình. Vì vậy, tôi phải sống một cách thật ý nghĩa để trả ơn cuộc đời và xứng đáng với những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do cho dân tộc”. Trở về nơi chôn nhau cắt rốn, ông Thành nỗ lực học tập, làm việc, cống hiến hết sức mình cho sự phát triển của quê hương. Ông Thành theo học tại Trường Trung cấp kế hoạch của tỉnh Thanh Hóa. Có kinh nghiệm, học thức, nhiệt tình, trách nhiệm, ông Thành được tín nhiệm làm cán bộ kế hoạch của HTX nông nghiệp xã Vĩnh Phúc; 12 năm đảm nhận công việc trưởng thôn - thôn Đồng Minh. Ông Thành là một trong những người chủ chốt, tích cực vận động, xây dựng và phát triển Ban liên lạc hội chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày huyện Vĩnh Lộc. Ban liên lạc được xem là “mái nhà chung”, nơi kết nối, giao lưu, gặp gỡ, tích cực hoạt động, quan tâm, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau của những người lính đã từng bị địch bắt, tù đày trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc. Đến nay, Ban liên lạc có hơn 20 hội viên tham gia, thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa và góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.48 năm đã qua đi, hồi ức sống và chiến đấu cùng những người đồng chí, đồng đội ở Trung đội Mai Quốc Ca vẫn luôn hằn sâu trong tâm trí cựu chiến binh Vũ Quang Thành. Ông cũng đã nhiều lần trở lại Quảng Trị - mảnh đất khói lửa khốc liệt một thời, thăm lại trận địa xưa, vào nghĩa trang thắp nén tâm nhang tưởng niệm những người đã khuất. Sau ngày thống nhất, núi sông liền một dải, hài cốt của các chiến sĩ Trung đội Mai Quốc Ca được cải táng, quy tập về Nghĩa trang Ái Tử, huyện Triệu Phong. Trong một không gian chung, những ngôi mộ nằm sát bên nhau như chưa hề có cuộc chia ly đẫm máu, khốc liệt ấy. Tất cả ngôi mộ đều đề chung một tên gọi: Mộ liệt sĩ Trung đội Mai Quốc Ca.Sau khi xác định thông tin các liệt sĩ được quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ huyện Triệu Phong, Ban liên lạc Trung đoàn 9 đã đề nghị Cục Người có công (thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cho phép khai quật hài cốt liệt sĩ ở đây, lấy mẫu ADN gửi Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam để tổ chức giám định. Vượt qua biết bao gian nan, vất vả, kết quả đối chiếu với mẫu ADN của thân nhân các liệt sĩ thuộc Trung đội Mai Quốc Ca có 16/19 mẫu trùng khớp. Năm 2014, phần mộ của 16 đồng chí thuộc Trung đội Mai Quốc Ca đã được gắn tên, bổ sung thêm thông tin. Ngay tại nơi các chiến sĩ của Trung đội Mai Quốc Ca hy sinh, tỉnh Quảng Trị phối hợp với Bộ Giao thông - Vận tải xây dựng đài tưởng niệm, lấy ý tưởng hình tượng của một trái tim lớn, bên trong có 20 giọt máu tượng trưng cho 20 sinh mệnh, 20 cuộc đời, 20 chiến sĩ của trung đội anh hùng. Ông Thành xúc động kể: “Chính ông cũng có một ngôi mộ được gắn tên, tuổi, quê quán ở Nghĩa trang Ái Tử. Ông vẫn không rời xa đồng đội, tên ông vẫn ở đó, trong danh sách 20 cái tên của trung đội anh hùng. Đó là điều thiêng liêng, niềm hãnh diện lớn lao mà ông mang theo suốt cuộc đời mình”.


