Bài viết

LÒNG MẸ NHƯ NGỌN ĐÈN SÁNG RỰC LUÔN HƯỚNG VỀ CÁCH MẠNG - Mẹ VNAH Nguyễn Thị Còn

Vĩnh Long14/01/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Vĩnh Thành (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Vĩnh Thành)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Nguyễn Thị Còn được sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Lớn lên, cũng như bao cô gái khác trong làng, Mẹ có chồng, rồi sinh con, đẻ cái. Mẹ cùng chồng một nắng hai sương để nuôi đàn con thơ dại.

Sống trong thời Pháp thuộc, gia đình của Mẹ khổ lắm, cực lắm! Năm 1945, cách mạng đã về làng giải phóng cho bà con. Chồng của Mẹ, ông Ngô Văn Dường hăng hái tham gia phong trào thanh niên tiền phong, đi đốt bót, diệt tề. Có thể nói, truyền thống của gia đình Mẹ bắt đầu từ những ngày tham gia khởi nghĩa ấy.

Sau cách mạng tháng Tám, hai người con của Mẹ tham gia công tác cách mạng ở địa phương: anh Hai Lâm (Ngô Văn Lâm) và anh Ba Đấu (Ngô Văn Xinh). Năm 1954, anh Hai Lâm từ giã Mẹ và gia đình đi tập kết ra Bắc. Anh Ba Đấu công tác trong lòng địch, ở quê nhà từ năm 1950. Năm 1958, anh bị địch phát hiện. Chúng bắt anh bỏ tù. Trong trại giam bị giặc hành hạ, tra tấn dã man, nhưng anh vẫn một lòng đi theo Đảng. Năm 1962, anh Ba Đấu vượt ngục và tiếp tục về quê nhà hoạt động cách mạng. Anh là nỗi khiếp sợ, ám ảnh của bọn lính ngụy ở Chợ Lách trong những năm 1962 – 1966.

Những năm ấy, bọn địch rất chú ý đến gia đình của Mẹ. Chúng ép Mẹ gọi anh Ba chiêu hồi, nhưng Mẹ một mực che giấu. Chồng của Mẹ bị chúng bắt lên, bắt xuống, phải đi tạp dịch, chuyển đất, bị tra tấn, đánh đập.

Mẹ vừa lo cho chồng, lo cho con vừa căm giận bọn giặc ác quá! Mẹ đã cho người con trai thứ bảy, anh Bảy Vân (Ngô Văn Rớt) tham gia cách mạng vào ngày 12 tháng 4 Âl (1964) tại Phú Sơn. Mẹ không muốn những đứa con của Mẹ lọt vào tay giặc, chống lại nhân dân.

Anh Ba Đấu thường về thăm Mẹ. Anh làm nhiệm vụ Trung đội phó, cán bộ liên xã. Trên đường đi công tác, anh cùng các chiến sĩ hay ghé tạt qua nhà. Mẹ vừa lo cơm nước cho anh em du kích, vừa hỏi han, động viên ân cần. Mẹ nhìn anh em ăn cơm mà vui lắm! Mẹ coi các chiến sĩ như là đàn con của Mẹ.

Ngày mùng 8 tháng 2 Âl (1966), trong một trận chống càn, anh Ba Đấu đã hy sinh ở Chòm Bần, nơi quê nhà (xã Long Thới).

Mẹ buồn lắm, đau lòng lắm! Nỗi căm giận của người đàn bà mất con xốn xang trong lòng Mẹ. Mẹ muốn trả thù cho con. Mẹ lại dứt ruột đưa người con trai thứ tám, anh Tám Sĩ (Ngô Văn Đâu) lên đường. Anh Tám Sĩ thoát ly gia đình ngày 20 tháng 8 Âl (1966), chỉ sau ngày hy sinh của anh Ba vài tháng.

Tết Mậu Thân (1968), gia đình Mẹ đông vui như ngày hội. Anh Bảy Vân, anh Tám Sĩ cùng đồng đội về nhà ăn tết với Mẹ và bà con lối xóm. Đó có lẽ là những kỷ niệm vui nhất, đẹp nhất mà Mẹ còn nhắc hoài trong những ngày cuối đời.

Cách mạng rút đi, bọn lính ngụy đặc biệt dòm ngó, rình rập căn nhà của Mẹ, ngăn cản bà con lối xóm đến thăm Mẹ. Thời đó, vách nhà nào bị bôi đen là gia đình có người tham gia cách mạng. Bà con rất thương Mẹ nhưng ngại công khai tới lui, thăm hỏi vì sợ bị liên lụy. Buổi tối, chúng bắt Mẹ phải treo đèn ngoài rào để chúng dễ bề quan sát. Mẹ luôn sống trong tâm trạng hồi hộp, bất an bởi sự kềm kẹp, vây hãm, o ép, trấn áp của bọn lính địa phương, bảo an của giặc.

Sống trong những ngày đen tối ấy nhưng lòng Mẹ vẫn sáng rực như một ngọn đèn soi hướng về cách mạng, hướng vào chiến khu, mà nơi đó những đứa con yêu quý của Mẹ ngày đêm băng rừng, lội sông, cắt đường để giải phóng làng xóm, quê hương.

Những ngày ấy, Mẹ tảo tần sớm hôm lo ruộng nương, lo cho đôi trâu cày, kiếm gạo nuôi cháu. Hũ gạo nuôi quân của Mẹ lúc nào cũng đầy. Mỗi tháng, Mẹ đều đóng góp cho cách mạng nửa giạ gạo. Của ít nhưng lòng Mẹ thiệt là nhiều. Thương các con lắm! Dành dụm bao nhiêu là Mẹ gửi hết ra chiến khu cho con. Khi thì quần áo, khi thì tiền bạc, vàng, đồng hồ... như là một tấm chân tình của Mẹ lo cho con, cho cách mạng.

Mỗi tháng một lần, tháng nào cũng thế, Mẹ băng đồng, len theo đường vườn, giả dạng người đi chợ xách giỏ trầu đi xuống Vĩnh Hòa, Phú Sơn theo giao liên vào khu. Mẹ đem tiền tiếp tế cho con, cho bộ đội. Chuyến đi nào của Mẹ cũng mất 3 – 4 ngày. Nguy hiểm lắm! Nhưng nhớ con, lo cho con, cho cách mạng, Mẹ đã trở thành người mẹ gan dạ, dũng cảm, anh hùng.

Năm 1972, anh Tám Sĩ (liệt sĩ Ngô Văn Đâu), trung úy đại đội phó tiểu đoàn 6 cơ động đã hy sinh trong một trận đánh với Sư đoàn 9 ngụy ở Mỏ Cày Nam. Và rạng sáng ngày mùng 5 tháng 5 Âl (1973), anh Bảy Vân (liệt sĩ Ngô Văn Rớt), trung úy Huyện đội phó đã hy sinh tại nhà. Anh Bảy bị mật báo và địch phục kích bắn chết sau buổi tiệc bánh xèo lúc 3 giờ sáng do tự tay Mẹ làm. Mẹ chết lên chết xuống vì các con của Mẹ hy sinh. Mẹ đấu tranh với bọn lính để được nhận xác và chôn cất anh Bảy ở đất nhà.

Sau ngày miền Nam giải phóng, người con thứ hai của Mẹ, anh Ngô Văn Lâm, đi tập kết ở miền Bắc 21 năm trở về. Anh là thương binh 1/4, đôi mắt gần như mù lòa vì trúng đạn pháo ở Quân khu 7. Con thứ năm của Mẹ, anh Ngô Văn Lượm, sau thời gian trốn giặc ở chùa ông Đạo Dừa đã trở về săn sóc, phụng dưỡng Mẹ. Đó cũng là niềm an ủi cuối đời của Mẹ.

Mẹ Còn mất năm 1989. Mẹ được Chủ tịch nước Lê Đức Anh truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng ngày 24 tháng 4 năm 1995.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn