Lòng tôn kính và tình yêu thương sâu sắc đối với mẹ và chị của GS.VS. Trần Đại Nghĩa
Giáo sư Viện Sĩ Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13- 9- 1913, là người con trai thứ hai của ông giáo Phạm Văn Mùi và bà Lý Thị Diệu, chị gái Phạm Thị Nhẫn lớn hơn ông hai tuổi. Ông được sinh ra ở quê ngoại (Xã hòa Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long ngày nay). Tuổi thơ của ông trải qua rất nhiều khó khăn cơ cực. Cha mất sớm từ khi ông lên bảy tuổi, mẹ và chị gái phải tần tảo, bươn chải ngược xuôi để nuôi ông ăn học. Thấm nhuần đạo lý và lời căn dặn của người cha trước lúc mất: “Quanh ta bao nhiêu người nghèo khổ, lớn lên các con có thể làm nghề dạy học như ba, cũng có thể làm nghề khác. Nhưng chỉ làm nuôi bản thân thì chưa đủ, nhất là Lễ phải trở thành trụ cột của gia đình. Có má chăm lo dạy bảo, Lễ phải học hành đến nơi đến chốn và phải biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời”. Chính lời căn dặn đó của người cha, tình yêu thương vô bờ bến của mẹ và sự hy sinh cao cả của người chị gái đã luôn nhắc nhở và là động lực giúp cho Phạm Quang Lễ vượt lên mọi khó khăn, thử thách trong học tập cũng như trong cuộc sống để có được một “Trần Đại Nghĩa” cho quê hương, dân tộc. Và cũng chính những điều đó đã khắc sâu vào tâm trí của ông cho đến suốt cả cuộc đời.
Có thể nói rằng: Cuộc sống của Phạm Quang Lễ cũng như của cả gia đình đã thay đổi từ khi ông giáo Mùi qua đời. Bởi nguồn thu nhập chính của gia đình cũng từ lương của ông giáo. Sau khi ông mất kinh tế gặp nhiều khó khăn, vất vả, nợ nần chồng chất, nhưng cũng nhờ thầy Ba và thầy Năm là bạn của ông giáo Mùi ở trường quyên góp, giúp đỡ cho gia đình vượt qua cảnh nợ nần túng thiếu. Bà giáo nghĩ đây cũng là phúc đức của ông giáo đã để lại cho gia đình và các con. Cuộc sống đang gặp lúc khó khăn, túng quẫn, nay phải cùng một lúc lo cho cả hai con ăn học, nghĩ tới đây bà giáo càng thêm đau lòng. Nhưng dù thế nào thì bà giáo cũng phải lo cho Lễ được học hành đến nơi đến chốn, đúng theo ý nguyện của ông giáo. Như thấu hiểu được nỗi lòng của má, mong muốn thực hiện ý nguyện của cha và chị Nhẫn vốn rất thương em nên vui lòng chịu thiệt, đã bỏ học để phụ giúp mẹ lo cho em ăn học. Do không quen việc buôn bán ở thị xã nên bà cùng với người con gái trở về quê tìm kế mưu sinh, còn Lễ phải ở lại Vĩnh Long để tiếp tục học hành.
Vậy là hơn bảy tuổi, Phạm Quang Lễ đã phải tự lập, tự lo cho bản thân trong mọi việc để học tập. Thời gian đầu, ông không quen được cảnh phải xa má, xa chị và lại nhớ ba. Có lần, nhớ má và chị quá, Ông bỏ nhà thầy Năm, chân không dép, đầu không mũ với chiếc áo ngắn tay và chiếc quần cộc, ông vừa đi vừa chạy khoảng 20 cây số để về quê thăm má và chị. Thấy ông đột ngột trở về, bà giáo và chị Nhẫn òa lên khóc. Bà ôm con trai vào lòng vừa thương vừa lo lắng. Bà nghĩ, chẳng lẽ bao nhiêu vất vả của bà vì con trai, nay hóa ra hoài công sao? Gặp được má và chị, ông vui mừng khôn tả nhưng khi thấy người má và người chị thân thương trở nên gầy guộc, đen sạm bởi công việc đồng án vất vả, và tất cả những vất vả đó là đều vì ông, vậy mà ông lại trốn học bỏ về, không làm tròn bổn phận. Nghĩ đến đó, ông vừa hối hận, vừa xấu hổ. Một lát sau, ông lau nước mắt và phân trần: “Má ơi, con nhớ má, nhớ chị quá, con chỉ định trốn về gặp má, gặp chị một ngày thôi rồi mai con sẽ trở lại trường”. Đêm hôm đó, bà giáo thao thức. Như ngày nào, bà vuốt tóc con, thủ thỉ khuyên nhủ con rất nhiều điều, lắng sâu tình mẫu tử, như truyền thêm ý chí và nghị lực cho cậu con trai tràn đầy hy vọng của gia đình.
Sau lần trốn về quê đó, ông trở lại Vĩnh Long mang theo trong đầu những lời dặn dò ngọt ngào của má và lòng quyết tâm cố gắng học hành cho thành đạt để đền đáp công ơn trời biển của cha mẹ và tình thương yêu của người chị gái đã hy sinh tương lai của mình dồn đắp hết tất cả cho đứa em trai.
Với ý chí thông minh vốn có và tinh thần vượt lên mọi hoàn cảnh khó khăn. Vậy là, Phạm quang Lễ đã vượt qua một quãng đời học sinh tiểu học, trải qua bốn năm học ở trường trung học Mỹ Tho, ba năm ở trường trung học đệ nhị cấp Pétrus Ký Sài Gòn. Ông đã hoàn xuất sắc trong mọi bậc học và đỗ đầu cả hai bẳng tú tài Tây và bằng tú tài Bản xứ. Với thành tích này, ông rất dễ học tiếp lên đại học, sau này ra trường cũng có chỗ đứng trong xã hội, có lương cao và đảm bảo cuộc sống đầy đủ cho má và chị gái. Nhưng ông không chọn con đường đó, bởi vì ông đã khẳng định một hướng đi cho cuộc đời của mình, nhưng ông vẫn chưa nói ý định này cho má và chị hai biết.
Trong khi chờ đợi cơ hội để thực hiện hoài bão của mình, ông đã nộp đơn xin đi làm và về quê phụ má với chị công việc đồng áng. Khi hay tin ông không tiếp tục học lên đại học bà giáo và chị Nhẫn rất ngỡ ngàng, vì bà nghĩ với một cậu tú tài xuất sắc thì thừa sức học lên tiếp, nhưng vì thấu hiểu được ý định lâu dài của con nên bà giáo và chị cũng đã đồng ý. Những ngày được sống ở gần má và chị, những người gần như chẳng bao giờ lo cho riêng mình từ áo cơm đến hạnh phúc, tất cả đều dành cho ông. Ông càng thấm thía ý nghĩa của tình máu mủ ruột thịt, càng muốn mau chóng được đi làm để đền ơn công lao đó.
Chờ đợi gần tròn nữa năm, cái ngày ấy rồi cũng đến, ông nhận được thư báo đi làm giúp việc cho người thư ký trong tòa sứ Mỹ Tho với mức lương ba mươi đồng Đông Dương một tháng, với mức lương này thì cũng đủ trang trải cho cuộc sống của ba người. Lúc này, cả gia đình cùng chuyển lên Mỹ Tho sinh sống. Bà giáo thuê một căn nhà nhỏ, giá rẻ, cũng gần nơi con trai làm việc. Ngày ông đi làm, đêm về cả nhà đoàn tụ, đầm ấm vui vẻ bên nhau. Kể từ khi ông giáo Mùi qua đời, đây là khoảng thời gian sung sướng, hạnh phúc nhất của gia đình, của bà giáo, của chị Nhẫn và đặt biệt là đối với ông. Vì ông biết rằng rồi đây ông phải xa má, xa chị một thời gian dài để thực hiện hoài bão của mình. Nghĩ tới đó, ông càng thương má và chị nhiều hơn.
Chị Nhẫn rất thương má và em, từ khi gia đình gặp biến cố, trải qua những năm tháng thiếu thốn, lam lũ. Chị đã có được kinh nghiệm trong nội trợ từ việc thu xếp, lo toan, chi tiêu mọi thứ cho gia đình, chị muốn để má được nghỉ ngơi sau bao năm vất vả việc đồng áng. Tuy tằn tiện trong việc chi tiêu nhưng chị vẫn chăm lo đầy đủ bữa ăn hàng ngày để đảm bảo sức khỏe cho gia đình. Ngoài ra, chị còn tiết kiệm được một số tiền, chị muốn mua cho em mình một chiếc xe đạp để đi làm. Lúc đầu Lễ cũng không muốn mua, vì từ nhà đến nơi làm cũng không xa, nhưng chị hai và má nài ép nên ông phải nghe lời. Ông nghĩ, có xe đi làm cũng thuận tiện, thỉnh thoảng có thể đưa má và chị đi đây đó cũng là một niềm vui.
Năm ấy, bà giáo cũng đã bước sang tuổi tứ tuần, sức khỏe cũng không còn được như xưa. Đã mấy lần bà ngỏ ý với ông, muốn ông lập gia đình để có cháu bế bồng, nhưng lần nào ông cũng lặng thinh lắng nghe, rồi tìm cách lảng tránh. Ông rất thấu hiểu tấm lòng và mong muốn của má. Cuộc đời của má đã trải qua bao nỗi buồn, vất vả vì chồng con, nay muốn sống gần con, có cháu, có dâu là ước nguyện chính đáng và rất thường tình. Nhưng bà đâu có biết ông âm thầm nuôi một hoài bão lớn, muốn được góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp đánh đổ bọn thực dân xâm lược. Rồi ông thưa thật với bà giáo về ý định sẽ đi xa du học, về hoài bão muốn tham gia vào việc giúp đồng bào đánh đổ thực dân. Bà giáo đã hiểu ý nguyện của con trai, và nhớ lại lời ông giáo căn dặn con trai: “Phải biết đem hiểu biết của mình giúp ích cho đời”, bà thấy không nên ép con. Từ đó bà không nói thêm về chuyện ấy nữa.
Sau bao nhiêu năm chờ đợi, giờ đây hoài bão của ông cũng trở thành hiện thực. Ông được một nhà báo tên là Vương Quang Ngươu, một Việt kiều từ Pháp về, làm việc ở Tòa bố chính Mỹ Tho, giúp đỡ cho ông một xuất học bổng đi du học một năm ở Pháp (Năm học 1935-1936) vì nhận thấy ông là một thanh niên có tài năng và có chí lớn. Vậy là, sau hơn hai năm làm việc ở Tòa sứ Mỹ Tho, được sống những ngày tháng hạnh phúc bên má và chị gái. Đến ngày 5/9/1935, tại bến cảng Nhà Rồng, Phạm Quang Lễ tạm biệt những người thân yêu xuống tàu sang Pháp.
Từ ngày ông đi du học, bà giáo và chị hai Nhẫn cũng trở về quê ở Chánh Hiệp, Tam Bình, Vĩnh Long (Nay là xã Hòa Hiệp, Tam Bình, Vĩnh Long) sinh sống. Nhờ có tiền ông gửi về, số tiền mà ông trích từ quỹ học bổng của mình để gửi về phụ giúp cho má và chị hai có thêm tiền sinh hoạt, tiền thuốc men chữa bệnh. Bà và chị Nhẫn cũng đỡ vất vả, càng thêm quý tấm lòng của đứa con hiếu thảo. Hàng tháng bà giáo đều nhận được tiền của ông gửi về qua đường bưu điện. Có thêm số tiền này bà giáo và chị hai Nhẫn cũng thôi không làm ruộng, chỉ ở nhà chăn nuôi đàn heo, đàn gà, cuộc sống cũng thuận lợi hơn. Mỗi lần viết thư, chị hai Nhẫn luôn báo tin về sức khỏe của má cho em trai vui: “Má đỡ ho nhiều, mỗi bữa ăn hai bát cơm, đêm ngủ ngon vì biết em khỏe, học giỏi. Má chỉ ước mong chóng đến ngày gặp lại con trai yêu quý”. Mỗi lần nhận được thư nhà là một niềm vui sướng vô hạn của một người con xa nhà, xa quê, vì vậy ông càng yên tâm tập trung cho việc học.
Rồi mấy tháng trôi qua, ông không nhận được thư của chị hai Nhẫn gửi, ông rất sốt ruột, không biết có chuyện gì xảy ra ở quê nhà. Chờ đợi mãi, cuối cùng ông cũng nhận được thư nhà, nhưng lần này không phải là nét chữ quen thuộc của chị hai Nhẫn, ông càng có linh cảm có chuyện chẳng lành. Đó là thư của người cậu báo tin đau buồn: “Đầu tháng sáu, chị Nhẫn chèo ghe trên sông Măng Thít đi mua thức ăn cho heo, không may gặp cơn lốc xoáy giữa dòng nước lớn, ghe bị lật, chị bị nhấn chìm xuống dòng sông sâu. Bà giáo đau xót, la hét như người mất trí, cứ chạy ra bờ sông liều mạng lao xuống dòng nước, đã mấy lần như thế. Cũng may có bà con can ngăn. Cậu sợ chị liều mạng, đã đưa về ở gần nhà cậu để có điều kiện trông nom. Cậu đã nhờ bà con lối xóm giúp đỡ, chuyển ngôi nhà cũ của bà giáo về dựng gần nhà cậu. Nay bà giáo đã tỉnh tâm trở lại, sợ con lo phiền, bỏ dỡ việc học, không chịu cho ai viết thư báo tin. Nhưng sức khỏe của bà rất nghiệm trọng, bệnh ho tái phát, cậu phải viết thư báo cho cháu biết”.
Khi biết tin, lòng của ông rối bời, vừa thương xót cho người chị đã hy sinh cả tuổi xuân để chăm sóc cho má, cho em và đã không may ra đi giữa tuổi đời hai mươi bảy, lại vừa thương má bị bệnh, đêm hôm một mình đơn độc. Nghĩ đến đó ông không còn tâm trí nào để tiếp tục việc học, ông xin phép nhà trường và mua vé xuống tàu về nước.
Về đến nhà, ông ôm lấy má, nước mắt giàn giụa, nghẹn ngào: “Tội nghiệp má quá, má ơi!”. Rồi ông đến bên bàn thờ, thắp nhang khấn cha, khấn chị mà hai dòng nước mắt chảy ròng. Song, bà giáo đưa ông tới viếng mộ chị hai. Vừa thắp nhang ông vừa khóc nức nở: “Chị ơi! Em thương chị bao nhiêu thì càng đau xót bấy nhiêu. Suốt đời chị đã sống vì em, vì má. Từ nhỏ, chị đã phải nghỉ học để cùng má làm lụng vất vả, nuôi em ăn học. Chị ra đi giữa tuổi đời quá trẻ, chưa được hưởng chút gì gọi là hạnh phúc, đến một gia đình nhỏ bé mà người con gái bình thường nào cũng mong ước, chị vẫn chưa có. Em xót thương chị lắm, chị hai Nhẫn ơi!”. Nghe lời ông khấn, bà giáo cũng òa lên khóc cho vơi bớt nỗi đau đã lắng sâu trong lòng.
Hơn một tháng ông ở nhà với má, lo thuốc thang chăm sóc cho má, thay bà làm những việc trong nhà, kể cho bà nghe những chuyện thành phố Paris, những ngày lênh đênh trên biển cả để cho bà mau quên những nỗi buồn đau. Được con trai lo lắng, chăm sóc bao ngày, sức khỏe của bà cũng dần bình phục, khỏe nhiều hơn.
Thấy con trai ở nhà lâu mà không nhắc tới việc trở lại trường bà sốt ruột nhắc nhở và đau lòng khi nghe ông nói không muốn tiếp tục đi học vì không nở để bà ở nhà một mình. Rồi bà vuốt đầu con, nhẹ nhàng nói: “Con đừng nghĩ vậy, con không học tiếp thì bao nhiêu nổi vất vả, bao nhiêu công sức của chị hai con và của má hóa ra hoài công vô ích sao. Chị hai thương con, mong con học hành để thực hiện ước nguyện của ba con, thực hiện được hoài bảo của ba con, nếu con bỏ học dở dang, làm sao chị và ba con an lòng ở nơi chín suối”. Người cậu cũng động viên: “Cháu cứ yên tâm lên đường tiếp tục học tập. Ở nhà mọi việc đã có cậu, có bà con lối xóm”. Biết không thể nào làm trái ý của má và cậu đươc. Ông hứa sẽ trở lại trường cho kịp năm học, chỉ mong má ở nhà đừng đau buồn, cố gắng ăn uống, thuốc thang, giữ gìn sức khỏe, không được làm việc vất vả, như vậy ông mới yên tâm ra đi. Nói xong bà ôm lấy con và nói: Con cứ yên tâm. Má sẽ sống chờ ngày con về!
Thế nhưng, niềm thương nhớ của bà đối với người con gái bất hạnh không lúc nào nguôi. Bà mất ăn, mất ngủ và dần dần mắc bệnh lao. Vì nỗi khao khát muốn được chứng kiến ngày trở về trong thành đạt của con trai mà không khi nào bà thừa nhận với mọi người rằng mình đang mang bệnh. Rồi sức khỏe của bà ngày càng yếu đi, bệnh ngày một nặng thêm, dù đã được một bác sĩ quen tận tình chạy chữa. Đó là Bác sĩ Lâm Văn Bổn, một người bạn thân của Phạm Quang Lễ khi còn học chung ở trường Pétrus ký. Ông rước bà lên Vĩnh Long để tiện bề điều trị, săn sóc chẳng khác gì mẹ của mình. Tuy nhiên, thời điểm đó chưa có thuốc chống lao hiệu nghiệm nên bà đã trút hơi thở cuối cùng vào năm 1941 trong vòng tay của một người bác sĩ nhận hậu. Cùng lúc này, cuộc chiến tranh lần thứ hai bùng nổ, mọi liên lạc đều bị gián đoạn, ông không nhận được tin nhà, ông chỉ thấy thư và tiền gửi đi hàng tháng đều bị trả lại. Lúc này ông rất lo lắng cho mẹ, nhưng ông hoàn toàn bất lực, chỉ còn biết trông cậy vào họ hàng và tự an ủi bản thân: “Có họ hàng bên cạnh, chắc mẹ sẽ qua được bước khó khăn”. Đến khi hay tin mẹ mất, ông chỉ biết đau xót thương cho người mẹ dành cả cuộc đời vì con, vì sự nghiệp cao cả của con.
Năm 1946, ông về nước nhưng chỉ lo hoạt động cách mạng nên chưa có dịp về thăm quê hương. Mãi đến năm 1955, khi có người quen tập kết ra Bắc, ông mới biết được tin về những năm tháng cuối đời của người mẹ.
Có thể nói rằng: Để có được một nhà khoa học kiệt xuất tài ba, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và một người con ưu tú của quê hương Vĩnh Long, thì không thể không nói đến sức ảnh hưởng của gia đình. Đặc biệt là hai người phụ nữ mà ông luôn kính trọng và yêu thương sâu sắc đó là má và chị gái. Họ đã hy sinh suốt cả một đời vì lý tưởng của ông. Chính vì sự ảnh hưởng đó đã hình thành nên một nhân cách, một tấm gương sáng về lòng yêu nước, về lý tưởng, sự cống hiến cho dân tộc và đạo đức cách mạng cho các thế hệ hôm nay. Nhất là học sinh, sinh viên cùng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học học tập và noi theo./.
Tài liệu tham khảo:
1/ Sách “Huyền thoại nhà khoa học anh hùng Trần Đại Nghĩa” (tác giả Nguyễn Thành Đức)
2/ Sách: “Viện sĩ Trần Đại Nghĩa” (Tác giả Nguyễn Văn Đạo)
Xử lý tin: Phương Hà
Sưu tầm: https://vast.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/long-ton-kinh-va-tinh-yeu-thuong-sau-sac-%C4%91oi-voi-me-va-chi-cua-gs-vs-tran-%C4%91ai-nghia-29819-1804.html



