LỚP HỌC ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG Ở QUẢNG CHÂU (1925) - TRUNG QUỐC VÀ NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CỦA TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH HIỆN NAY
Khi nhận thấy dấu hiệu “cánh én báo hiệu mùa xuân” trong phong trào đấu tranh của một số thanh niên yêu nước Việt Nam lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhanh chóng tiếp nối các hoạt động trên hành trình cứu nước, giải phóng dân tộc của mình bằng việc tổ chức lớp học đầu tiên của Đảng ở Quảng Châu, Trung Quốc (1925). Đây không chỉ là hoạt động giáo dục lý luận đơn thuần, mà là bước chuẩn bị chiến lược về tư tưởng, tổ chức và nhân lực cho một cuộc cách mạng triệt để, đặt dưới ngọn cờ chủ nghĩa Mác - Lênin. Lớp học này đã góp phần hình thành đội ngũ cán bộ nòng cốt, xây dựng nền tảng tư tưởng - lý luận cách mạng, đồng thời gắn kết chặt chẽ cách mạng Việt Nam với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Với ý nghĩa lịch sử to lớn, lớp học đầu tiên của Đảng chính là tiền đề quan trọng đưa tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam - chính đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
1. Lớp học đầu tiên của Đảng với sứ mệnh lịch sử quan trọng
Từ năm 1911 đến 1941 là khoảng thời gian Nguyễn Ái Quốc bôn ba khắp năm châu, bốn bể. Người đã đi qua nhiều quốc gia và châu lục trên thế giới. Ngày 25 tháng 9 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc được Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ra quyết định về chuyến đi Quảng Châu (Trung Quốc) theo đề nghị của Người. Quyết định ghi rõ: “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc cần đi Quảng Châu. Chi phí do Ban Phương Đông chịu”. Đến ngày 11 tháng 11 năm 1924 Nguyễn Ái quốc đã tới Quảng Châu (Trung Quốc) và bắt đầu tư thời điểm này, Người đã có nhiều hoạt động tích cực tại nơi đây. Đặc biệt, đầu năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành mở lớp huấn luyện chính trị, tổ chức tại nhà số 13 và 13/1 đường Văn Minh, nay là số 248 và 250 đường Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc). Phần lớn học viên là những thanh niên Việt Nam yêu nước, xuất thân từ sinh viên, trí thức, cũng có một vài người là tú tài nho học. Lớp học đầu tiên của Đảng được tổ chức đã mang sứ mệnh lịch sử quan trọng:
Một là, xây dựng nền tảng tư tưởng, lý luận cho cách mạng Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu và khảo nghiệm thực tiễn, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, trong đó có chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong” [1]. Như vậy, đối với Nguyễn Ái Quốc truyền bá lý luận tiên tiến về cách mạng trong nước là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Tìm hiểu, đối chiếu và so sánh những lý luận, học thuyết đương thời, Người đã chỉ ra: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [2]. Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về trong nước là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, bởi nhiều yếu tố liên quan đến khoảng cách địa lý; trình độ nhận thức của người dân trong nước; hay sự kìm kẹp của thực dân Pháp đối với phong trào đấu tranh của những người yêu nước v.v.. Tình hình đó đặt ra nhiệm vụ phải nắm bắt nội dung và truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin về trong nước của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt cho phong trào cách mạng trong nước. Để báo cáo lại tình hình hoạt động tại Đông Dương, trong “Báo cáo gửi Quốc tế cộng sản”-1926, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “những việc tôi đã làm cho Đông Dương từ khi đến đây: ... Tổ chức một trường tuyên truyền. Các học viên được bí mật đưa đến Quảng Châu. Sau một tháng rưỡi học tập họ trở về nước. Khoá thứ nhất được 10 học viên. Khoá thứ hai sẽ mở vào tháng 7 tới, sẽ có khoảng 30 người” [3]. Từ đây, mỗi cán bộ đã được tiếp thu những kiến thức sơ bộ về Chủ nghĩa Mác - Lênin với nhiều nội dung khác nhau. Sau này, toàn bộ bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở lớp học đã được tập hợp thành cuốn Đường Cách mệnh. Cuốn sách chính là những bài học vô cùng quan trọng về chuẩn bị lực lượng, xác định mục tiêu, phương pháp đấu tranh, và những vấn đề khác của cách mạng Việt Nam. Mỗi cán bộ nòng cốt được tham gia lớp học đã tiếp thu toàn bộ tri thức, coi đó là hành trang quan trọng để tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo của cuộc cách mạng.
Hai là, chuẩn bị nhân lực nòng cốt cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam mang nhiều xu hướng khác nhau. Tuy nhiên, những phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân mang khuynh hướng vô sản còn nhiều hạn chế và mang tính tự phát cao. Dựa vào thực tiễn đấu tranh, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được sự thiếu thốn về lực lượng và yếu về trình độ lý luận, biện pháp tuyên truyền v.v.. của đội ngũ những người yêu nước trong phong trào cách mạng Việt Nam lúc bây giờ. Với quan điểm “Việc gì khó cho mấy, quyết tâm làm thì làm chắc được, ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm thì phải nổi” [4], Nguyễn Ái Quốc đã từng bước tháo gỡ những nút thắt đang bó buộc cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đó. Cách thức Người thực hiện là thiết lập các đường dây liên lạc nhằm khẩn trương tìm kiếm và đưa cán bộ sang Quảng Châu tham dự lớp học. Hệ thống giao thông đó vừa có nhiệm vụ đưa đón cán bộ lại thực hiện cả việc vận chuyển tài liệu, sách báo tiến bộ về nước tránh sự kiểm soát gắt gao của mật tham và tay sai của thực dân để quốc. Từ lớp học trở về, nhiều cán bộ trong số họ đã trở thành những nhà lãnh đạo cách mạng xuất sắc: Đồng chí Trần Phú là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng; Đồng chí Hà Huy Tập - Tổng Bí thư Đảng (1936-1938); Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ; Đồng chí Phạm Văn Đồng sau là giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng Hòa; Đồng chí Phùng Chí Kiên - Ủy viên Trung ương Đảng, phụ trách quân sự của Đảng; Đồng chí Nguyễn Lương Bằng được giao phụ trách các vấn đề về tài chính, kiểm tra, thanh tra v.v.. Những tên tuổi trên đã khẳng định sự thành công từ lớp học, khi cung cấp cho cách mạng trong nước những hạt nhân vừa hồng, vừa chuyên. Có thể khẳng định, đây chính là “rường cột” của cách mạng Việt Nam, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dành tâm sức, trí tuệ để xây dựng để trở thành những “mũi” tấn công quan trọng vào phong trào cách mạng ở trong nước.
Ba là, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.
Với những yêu cầu của cách mạng trong nước cùng khoảng thời gian dài bôn ba khắp năm châu, bốn biển đế tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc luôn ý thức được việc cách mạng Việt Nam nằm trong dòng chảy cách mạng vô sản trên thế giới. Để tổ chức lớp học, ngoài những giảng viên là người Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc còn mời một số giảng viên là các lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung quốc, quốc dân Đảng Trung Hoa. Ngoài ra còn có một cán bộ thuộc Đoàn cố vấn Liên Xô ở Quảng Châu như: vợ chồng đồng chí M. Bôrôđin; đồng chí A.Páplốp cũng tham gia giảng dạy. Những bài giảng bằng tiếng Anh do Nguyễn Ái Quốc dịch, những bài giảng bằng tiếng Trung Quốc do Lâm Đức Thụ dịch. Nhờ có sự kết nối này, mà các học viên tham dự biết thêm được bối cảnh tình hình thế giới, các phong trào đấu tranh của nhân dân ở các quốc gia khác chống lại chủ nghĩa tư bản v.v.. Theo hồi ký của Hồ Tùng Mậu: Từ giữa năm 1926 đến đầu năm 1927 Nguyễn Ái Quốc mở thêm được 2 lớp, mỗi lớp khoảng 30 người. Với khoảng 75 học viên được huấn luyện trong 3 khóa họ đã trở thành “hạt giống đỏ” trong công tác tuyên truyền, tổ chức, phong trào cách mạng ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Nam Kỳ và hoạt động sôi nổi ở nước ngoài. Những cái tên như: Trần Phú, Nguyễn Đức Cảnh, Đỗ Ngọc Du, Lê Thiết Hùng, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Nguyễn Lương Bằng, Phạm Văn Đồng, Dương Đình Hạc, Nguyễn Tuân... Kết thúc khóa học có những học viên được giữ lại ở nước ngoài để công tác, có những người được cử đi học tại Trường Đại học phương Đông, có người vào học tại Trường quân sự Hoàng Phố. Còn số đông những cán bộ tham gia bồi dưỡng, tập huấn được cử về hoạt động trong nước. Họ đã tham gia phong trào “vô sản hóa”, đi vào trong các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, hoạt động tích cực trong phong trào công nhân. Hoặc họ đi tuyên truyền, gây dựng cơ sở cách mạng trong nông dân. Những hoạt động trên đã dần dần tạo ra sự chuyển biến tích cực làm cho phong trào đấu tranh vô sản ngày càng trở nên lớn mạnh ở trong nước.
Sự gắn kết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới còn là có nguyên nhân khác đó là Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết toàn cầu với mục tiêu giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Để các học viên có thể hiểu rõ và sâu sắc những nội dung của học thuyết đòi hỏi phải có những người am hiểu về kiến thức. Chính vì vậy, những giảng viên được mời đến không chỉ là người hiểu về lý luận và họ còn là những người đang đấu tranh nhiệt tình cho các phong trào ở các quốc gia khác trên thế giới. Từ những hoạt động nêu trên, Nguyễn Ái Quốc đã gắn bó cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, tranh thủ sự ủng hộ từ các lực lượng tiến bộ toàn cầu một cách tự nhiên nhất, thân thiết nhất.
Thành công của lớp học đầu tiên là minh chứng sinh động cho tầm nhìn chiến lược của Nguyễn Ái Quốc trong việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giữa yếu tố dân tộc và quốc tế trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
2. Nhiệm vụ Trường Chính trị - lớp tiếp nối sứ mệnh đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
Việc huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Ngày nay, tiếp thu những bài học kinh nghiệm tốt sứ mệnh đào tạo bồi dưỡng cán bộ cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Hệ thống các trường chính trị tỉnh cần:
Trước hết, xây dựng các trường chính trị phải là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của địa phương.
Trường Chính trị là đơn vị sự nghiệp có chức năng: tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở, cán bộ, công chức, viên chức ở địa phương về lý luận chính trị - hành chính; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; kiến thức về một số lĩnh vực khác; tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương [5]. Do vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ tại các địa phương phải được qui định rõ ràng, cụ thể và sát sao hơn nữa để tránh trường hợp nhiều đơn vị hiện nay triển khai tổ chức học tập, đào tạo, bồi dưỡng trùng lặp với đối tượng, nội dung học tập của các trường chính trị. Từ đó dẫn đến sự thiếu tập trung, chuyên nghiệp và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ không được đồng đều.
Thứ hai, thường xuyên đổi mới phương pháp giáo dục lý luận chính trị cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới.
Từ lớp học đầu tiên của Đảng cho thấy, đổi mới phương pháp giáo dục lý luận chính trị có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan của người học. Không chỉ giúp cho họ hiểu biết sâu sắc hơn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn làm cho mỗi cán bộ sáng tỏ, kiên định hơn về lý tưởng cách mạng, hành động và làm việc theo quy định của Đảng và Nhà nước. Trở thành tấm gương mẫu mực cho quần chúng nhân dân noi theo. Việc đổi mới phương pháp giáo dục lý luận chính trị còn có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh khoa học công nghệ ngày càng phát triển. Việc ứng dụng kha học công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy là cơ sở để thu hút sự quan tâm, chú ý của học viên đối với các bài giảng. Từ đó làm cho bài giảng trở nên hấp dẫn và sinh động hơn.
Thứ ba, xây dựng đội ngũ giảng viên giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, vững vàng về thái độ chính trị, trong sáng về tư cách, phẩm chất đạo đức.
Mỗi cán bộ, giảng viên tại các trường chính trị là chủ thể truyền tải lý luận chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Họ có vai trò là “cầu nối” gắn kết giữa lý luận với thực tiễn, nhằm tạo nên thế hệ cán bộ kế cận cho địa phương. Do vậy, đây phải là những con người am hiểu về sâu sác về lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có kiến thức thực tiễn về chính trị, quản lý Nhà nước, phát triển các lĩnh vực chính trị - xã hội ở địa phương. Ngoài ra, giá trị tấm gương đạo đức về bản lĩnh chính trị và đạo đức lối sống có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo dựng nên niềm tin của học việc đối nội dung, chương trình mà họ theo học. Đặc biệt có ý nghĩa củng cố uy tín của giảng viên đối với học viên trong quá trình giảng dạy cũng như đời sống thường ngày.
Thứ tư, sẵn sàng cho công tác kiện toàn bộ máy sau khi thực hiện sát nhập cấp tỉnh để đáp ứng ngày càng cao cho quá trình đổi mới của đất nước.
Căn cứ nội dung Nghị quyết số 60- NQ/TW ngày 12 tháng 4 năm 2025 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về sắp xếp, giải thể cấp huyện và sát nhập cấp xã để tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu năng, hiệu quả trong hệ thống chính trị. Các trường chính trị cần sẵn sàng phương án sắp xếp lại cơ cấu bộ máy với mục tiêu là tinh gọn, tránh chồng chéo, tiết kiệm ngân sách, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Sau khi thực hiện tinh gọn, Trường Chính trị mới tiếp tục là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của địa phương. Với cơ cấu tinh gọn, hiệu quả, tăng cường tính chuyên nghiệp và đảm bảo quản trị nội bộ hiệu quả; tự chủ về chuyên môn, tài chính cho phù hợp; bố trí nhân sự phù hợp với năng lực, vị trí, việc làm, tránh dàn trải./.
Tác phẩm sưu tầm
Nguồn: https://truongchinhtri.quangngai.gov.vn/
ThS. Trần Thị Thu Hương
Khoa Xây dựng Đảng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.270
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.289
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.238
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.282
[5] Quy định Số: 09-Qđi/TW ngày 13 tháng 11 năm 2018 của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XII về Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.



