Lớp học không bảng của thầy giáo Chu Cấp
Trên quê hương Yên Thành, người ta thường nhắc chuyện học hành bằng một sự trân trọng đặc biệt. Nhà nghèo đến mấy cũng cố cho con biết chữ. Thầy giáo Chu Cấp lớn lên trong nếp nghĩ ấy. Ông từng bảo, nghề dạy học không chỉ là đứng trên bục giảng; ở nơi khó khăn nhất, người thầy càng phải tìm cách giữ cho con chữ không bị mất đi.
Sau hai năm học tại Trường Sư phạm Trung cấp Vinh, năm 1960, thầy Chu Cấp được điều ra Ninh Bình dạy học. Đến năm học 1963–1964, thầy trở thành Hiệu trưởng Trường Ninh Giang. Khi ấy, thầy còn rất trẻ nhưng đã được tin tưởng giao nhiệm vụ quản lý trường và được lựa chọn đi tu nghiệp ở nước ngoài.
Đối với một giáo viên trẻ, cơ hội ấy là niềm mơ ước. Thế nhưng đúng lúc đó, thầy nghe tin ngành giáo dục đang tuyển chọn giáo viên tình nguyện vào miền Nam. Ở vùng giải phóng, trẻ em thiếu trường lớp, thiếu sách vở, nhiều nơi không có giáo viên. Sau nhiều đêm suy nghĩ, thầy xin gác lại việc tu nghiệp, tình nguyện đi B.
Sau ba tháng huấn luyện, thầy vượt Trường Sơn vào Trung ương Cục miền Nam, rồi được phân công về khu Trung Nam Bộ. Hành trang của người giáo viên chẳng có nhiều: vài bộ quần áo, một ít sách, cuốn sổ ghi chép và niềm tin rằng giữa chiến tranh, trẻ em vẫn phải được học.
Trường học ở vùng giải phóng không có cổng cao hay mái ngói. Có lớp dựng bằng tre, lợp lá, bàn ghế ghép từ những tấm ván đơn sơ. Khi có báo động, thầy trò xuống nơi trú ẩn; yên tiếng máy bay lại trở về học tiếp. Sách không đủ thì giáo viên chép bài ra giấy, hướng dẫn học sinh dùng chung. Phấn hiếm, người thầy tận dụng than củi hoặc que nhọn viết lên mặt đất.
Thầy Chu Cấp cùng đồng nghiệp vừa xây dựng phong trào giáo dục, vừa đào tạo giáo viên tại chỗ. Họ tìm những thanh niên biết chữ trong vùng, bồi dưỡng thêm kiến thức rồi giao phụ trách lớp nhỏ. Người học trước dạy người học sau. Nhờ vậy, trong hoàn cảnh gian khó, nhiều lớp học vẫn được mở, trẻ em và người lớn đều có cơ hội biết đọc, biết viết.
Năm 1969, sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, thầy Chu Cấp được điều về Mỹ Tho, giữ chức Phó Ty Giáo dục. Công việc của thầy là gây dựng hệ thống trường lớp, chuẩn bị đội ngũ giáo viên và duy trì việc học ở vùng căn cứ. Cũng trong năm ấy, thầy bị bắt khi đang hoạt động.
Những năm bị giam giữ là thử thách lớn đối với người giáo viên quê Yên Thành. Thầy lần lượt bị đưa qua nhiều nơi, từ Mỹ Tho đến Sài Gòn, rồi nhà giam Chí Hòa. Tháng 4/1972, thầy bị chuyển ra Côn Đảo. Điều kiện giam giữ khắc nghiệt, nhưng thầy cùng những người bạn tù vẫn động viên nhau giữ vững niềm tin.
Không có bảng đen, thầy biến nền nhà và những mảnh giấy nhỏ thành phương tiện dạy học. Người biết nhiều hướng dẫn người biết ít. Thầy phụ trách bồi dưỡng văn hóa, chính trị cho thanh niên, giúp những người trẻ hiểu rõ hơn về đất nước và lý tưởng mà họ đã lựa chọn. Những bài học được truyền đi bằng lời nói nhỏ, đôi khi phải ghi nhớ trong đầu vì không có giấy bút.
Trong hoàn cảnh ấy, con chữ mang một ý nghĩa khác. Nó không chỉ giúp người ta biết đọc mà còn giúp con người giữ bình tĩnh, giữ phẩm giá và niềm hy vọng. Một bài toán, một bài thơ hay câu chuyện về quê hương có thể khiến người tù nhớ rằng bên ngoài những bức tường vẫn còn gia đình, đồng đội và ngày trở về.
Thầy Chu Cấp còn tham gia tổ chức các hoạt động văn nghệ, sinh hoạt thanh niên và đấu tranh đòi quyền sống chính đáng cho người bị giam giữ. Thầy luôn cố gắng bảo vệ những người trẻ, nhắc họ không hành động nóng vội và phải đoàn kết. Trong ký ức của đồng đội, thầy vừa là người chiến sĩ kiên định, vừa là thầy giáo ân cần.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, thầy được trao trả. Bốn năm bị giam giữ không làm thay đổi lựa chọn của ông. Trở về với tổ chức, thầy tiếp tục làm công tác đón tiếp cán bộ dân chính miền Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, thầy đảm nhiệm công việc giáo dục tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1980, thầy Chu Cấp quyết định trở về Nghệ An, tiếp tục gắn bó với nghề dạy học cho đến lúc nghỉ hưu. Người từng từ bỏ cơ hội đi tu nghiệp, từng mở lớp giữa rừng và dạy học trong nhà giam lại trở về với những mái trường bình yên. Trên bục giảng, thầy không kể nhiều về gian khổ. Thầy thường nhắc học sinh phải quý từng trang sách, vì có một thời để giữ được một lớp học, rất nhiều người đã phải đánh đổi tuổi xuân.
Các cháu hôm nay được học trong lớp sáng đèn, có bàn ghế, sách vở và phương tiện hiện đại. Những điều tưởng như bình thường ấy từng là ước mơ của biết bao thầy cô đi B. Họ vào chiến trường không chỉ để chuẩn bị cho một ngày chiến thắng mà còn để chuẩn bị cho tương lai sau chiến thắng, khi trẻ em trên mọi miền đất nước đều được đến trường.
Câu chuyện của thầy Chu Cấp cho ta hiểu rằng có những người bảo vệ Tổ quốc bằng súng, có người bằng tay lái, cuốc xẻng, và cũng có người bằng viên phấn. Lớp học không bảng của thầy năm xưa đã khép lại, nhưng bài học về lòng tận tụy, khí tiết và niềm tin vào con người vẫn còn nguyên giá trị.
Tư liệu đối chiếu: Công an Nghệ An – “Ký ức hào hùng của nhà giáo đi B”.



