Lữ Gia – Người Việt đầu tiên chống Hán xâm lược
Lữ Gia – Người Việt đầu tiên chống Hán xâm lược
Nhà Triệu hay nước Nam Việt nói chung là một triều đại có nhiều điểm đặc biệt, khiến các sử gia đời sau không khỏi lúng túng. Người thì phân nhà Triệu vào trong lịch sử nước ta, người lại cho rằng không phải.
Tuy nhiên có hai chuyện mà chúng ta biết rất rõ: Triệu Đà là người xưng ngôi Hoàng đế đầu tiên ở đất Việt; và nhà Triệu đã dám g.i.ế.t sứ thần nhà Hán và những kẻ phản bội định dâng nước Việt cho nhà Hán. Trong việc chống lại phương Bắc của nước Nam Việt thời kỳ này, không thể không nhắc tới thừa tướng Lữ Gia. Ông là một vị quan đại thần gắn bó với giang sơn trong lúc gian nguy chống lại quân Hán xâm lược. -------------1 Bối cảnh lịch sử: Năm 204 TCN, Triệu Đà lập nước Nam Việt, định đô ở Phiên Ngung (nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc). Lãnh thổ Nam Việt lúc đó rất rộng lớn, bao gồm hầu hết tộc người Việt trong nhóm Bách Việt, biên giới phía bắc đến dãy Ngũ Lĩnh (phía nam vùng Giang Nam, Trung Quốc ngày nay), phía tây đến Dạ Lang, phía nam đến dãy Hoàng Sơn (Hà Tĩnh, Việt Nam ngày nay), phía đông giáp biển.Triệu Đà từng xưng đế tại Nam Việt, “ngồi xe hoàng ốc cắm cờ bên trái, ban chiếu lệnh xưng là chế, ngang hàng với Trung Nguyên” (Sử Ký Tư Mã Thiên). Sau do việc ngoại giao với nhà Hán mà sứ giả khi sang chầu nhà Hán thì xưng Nam Việt Vũ Vương, nhưng bên trong nước thì Triệu Đà vẫn xưng là đế. Năm 137 TCN, Triệu Đà mất, truyền ngôi cho cháu của mình là Triệu Mạt, tức Triệu Văn Vương. Triệu Văn Vương có được một Thừa tướng tài năng là Lữ Gia.-------------2 Thân ThếLữ Gia cũng được gọi là Lã Gia, 191 TCN – 110 TCN, tên hiệu là Bảo Công là Thừa tướng của 4 đời vua nhà Triệu nước Nam Việt. Ông là người nắm chính trường nước Nam Việt những năm cuối và sau cùng thất bại trước cuộc xâm lược Nam Việt của nhà Hán (Trung Quốc). Ông mất ngày 25 tháng 3, các đời sau họ Lữ và họ Lã ở miền Bắc Việt Nam làm giỗ tổ vào ngày 25 tháng 3 âm lịch hàng năm.Theo “Việt Nam tiền cổ vĩ nhân liệt truyện” thời Nguyễn thì Lữ Gia quê ở huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa, nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Còn theo “Cổ Lôi ngọc phả truyền thư” thì Lữ Gia quê ở Tiên Lữ thuộc bộ Vũ Ninh (thuộc Bắc Ninh ngày nay).Dân gian lưu truyền rằng Lữ Gia từ 3 tuổi đã thông âm luật, 8 tuổi đã thông Bách gia chư tử, binh thư. Lữ Gia làm Thừa tướng 4 đời vua Nam Việt là Triệu Văn Vương (136-125 TCN), Triệu Minh Vương (124-113 TCN), Triệu Ai Vương (112 TCN) và Triệu Dương Vương (112-111 TCN). Vào thời Triệu Văn Vương, Lữ Gia được vua tin tưởng phong làm Thừa tướng. Triệu Minh Vương thì lấy ông làm Thái phó. Chuyện kể về Lữ Gia dưới đây dẫu rằng trái với sử Tàu, nhưng cũng đáng để tham khảo thêm trong khi tài liệu về Thừa tướng Lữ Gia trong chính sử quá ít.-------------3 Nguy cơ mất nước:Năm 135 TCN, Mân Việt ở phía bắc mở các cuộc tấn công vào vùng đất biên giới với Nam Việt. Triệu Văn Vương phải nhờ người Hán giúp, sau đó vua Hán yêu cầu Triệu Văn Vương vào chầu. Sau khi bàn bạc, nhà Triệu cử Thái tử Anh Tề thay cha sang Hán. Tại đây, Anh Tề lấy một người con gái họ Cù. Minh Vương Triệu Anh Tề đã có con lớn là Triệu Kiến Đức với một bà vợ người Việt, nhưng vì yêu Cù Hậu là người Hán nên lập con nhỏ của Cù Hậu là Triệu Hưng lên thay.Năm 113 TCN, Minh Vương mất, Hưng nối ngôi, tức là Triệu Ai Vương. Trước kia, Thái hậu chưa lấy Minh Vương, đã từng thông dâm với An Quốc Thiếu Quý người Bá Lăng. Năm ấy nhà Hán thấy nước Nam Việt vua nhỏ nên sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ Triệu Ai Vương và Thái hậu vào chầu, như đối với các chư hầu nhà Hán, lại sai Biện sĩ là Gián nghị đại phu Chung Quân tuyên dụ, Dũng sĩ là Ngụy Thần giúp việc, vệ úy Lộ Bác Đức đem quân đóng ở Quế Dương để đợi sứ giả.An Quốc Thiếu Quý đến, lại tư thông với Thái Hậu,Người trong nước biết, phần nhiều bất bình không theo Thái hậu. Thái hậu sợ, muốn dựa uy nhà Hán, nhiều lần khuyên Triệu Hưng và các quan xin nội phụ nhà Hán, bèn nhờ sứ nhà Hán dâng thư, xin theo như các chư hầu của nhà Hán, cứ ba năm một lần vào chầu, triệt bỏ cửa quan ở biên giới. Vua Hán bằng lòng, ban cho Triệu Ai Vương và Thừa tướng Lữ Gia ấn bằng bạc và các ấn nội sử, trung úy, thái phó, còn các chức khác được tự đặt lấy. Dân chúng và triều đình biết được chuyện này đều rất bất bình, không ai muốn theo Thái hậu. Vua còn nhỏ, Thái hậu không được lòng triều đình liền ngả hẳn theo nhà Hán.Vua Hán thông qua An Quốc Thiếu Quý tác động lên Thái hậu, yêu cầu dâng Nam Việt cho nhà Hán, đồng thời sai Lộ Bác Đức đem quân đóng nơi biên giới để thị uy. Lộ Bác Đức tâu về với vua Hán rằng: nước Nam Việt có Bảo Côg (Lữ Gia), Lang Công (Nguyễn Danh Lang) hai tướng tài, mưu lược trí dũng, quân Hán khó mà thắng được. Kế tốt nhất là dùng mưu.-------------4 Binh biến diệt Cù Hậu: Năm 112 TCN, Cù thái hậu đã sửa soạn hành trang lễ vật quý giá để cùng Triệu Ai Vương vào chầu. Thừa tướng Lữ Gia tuổi cao chức trọng, người trong họ làm trưởng lại đến hơn 70 người, con trai đều lấy con gái vua đời trước, con gái đều gả cho con em vua và người tôn thất, cùng thông gia với Tần Vương Triệu Quang ở đất Thương Ngô.Trong nước Nam Việt, ông được lòng dân hơn cả vua. Lữ Gia nhiều lần dâng thư can Ai Vương nhưng Ai Vương không nghe. Lữ Gia quyết định làm binh biến, thường cáo ốm không tiếp sứ giả nhà Hán. Các sứ giả nhà Hán đều muốn hại ông, nhưng thế chưa thể làm được. Thái hậu cũng sợ phe Lữ Gia khởi sự trước, muốn nhờ sứ giả nhà Hán trù mưu giết ông.Cù thái hậu bèn đặt tiệc rượu mời sứ giả đến dự, các đại thần đều ngồi hầu rượu. Em Lữ Gia làm tướng, đem quân đóng ở ngoài cung. Tiệc rượu mới bắt đầu, Thái hậu bảo ông rằng:"Nam Việt nội thuộc [tức là thuộc về nhà Hán ] là điều lợi cho nước, thế mà tướng quân lại cho là bất tiện là tại sao?" Ý Cù thái hậu muốn chọc tức sứ giả. Sứ giả còn đang hồ nghi, chần chừ chưa dám làm gì. Lữ Gia thấy tai mắt họ có vẻ khác thường, lập tức đứng dậy đi ra. Thái hậu giận, muốn lấy giáo đâm ông nhưng Triệu Ai Vương ngăn lại.Lữ Gia bèn ra chia lấy quân lính của em dẫn về nhà, cáo ốm không chịu gặp vua và sứ giả, ngầm cùng các đại thần chống đối. Triệu Ai Vương vốn nể uy tín của Lữ Gia nên không có ý giết ông. Lữ Gia biết thế nên đến mấy tháng không hành động gì. Thái hậu muốn một mình giết Gia nhưng sức không làm nổi.Hán Vũ Đế nghe tin Lữ Gia không nghe mệnh, mà Triệu Hưng và Thái hậu thì cô lập, không chế ngự nổi, sứ giả thì nhút nhát không quyết đoán, lại thấy Hưng và Thái hậu đã nội phụ rồi, chỉ một mình Lữ Gia làm loạn, không đáng dấy quân, muốn sai Trang Sâm đem 2.000 người sang sứ. Sâm từ chối không nhận. Hán Vũ Đế bèn bãi chức Sâm. Tướng Tế Bắc cũ là Hàn Thiên Thu hăng hái xin đi. Hán Vũ Đế bèn sai Thiên Thu và em Cù thái hậu là Cù Lạc đem 2.000 người tiến vào đất Nam Việt.Lữ Gia bèn hạ lệnh trong nước rằng:"Vua còn nhỏ tuổi, Thái hậu vốn là người Hán, lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ với nhà Hán, đem hết đồ châu báu của Tiên vương dâng cho nhà Hán để nịnh bợ, đem theo nhiều người đến Trường An rồi bắt bán cho người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối lợi một thời, không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn đời".Ông bèn cùng với em đem quân đánh, g.i.ết Triệu Ai Vương và Cù thái hậu, cùng tất cả sứ giả nhà Hán, rồi sai người đi báo cho Thương Ngô vương Triệu Quang và các quận ấp, lập con trưởng của Triệu Minh Vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua, tức là Triệu Thuật Dương Vương.-------------5 Kháng chiến Chống quân Hán Xâm Lược: Đoán biết quân Hán sẽ tiến sang, Lữ Gia sai quân đóng giữ những nơi hiểm yếu chuẩn bị đón đánh. Tháng 11 năm 112 TCN, Thừa tướng Lữ Gia đã lập Thuật Dương Vương lên ngôi, quân của Hàn Thiên Thu tiến vào Nam Việt, đánh phá một vài ấp nhỏ. Lữ Gia bèn mở một đường thẳng để cấp lương cho quân. Khi quân nhà Hán đến còn cách Phiên Ngung 40 dặm, thì ông xuất quân đánh, giết được bọn Thiên Thu. Sau đó ông sai người đem sứ tiết của nhà Hán cho vào trong hòm để trên núi Tái Thượng (tức là đèo Đại Dũ) dùng lời khéo để tạ tội, một mặt phát binh giữ chỗ hiểm yếu. Ông chất đá giữa sông gọi là Thạch Môn.Vua Hán nghe tin liền huy động 7 đạo quân với quân số 30 vạn đặt dưới sự chỉ huy của Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt. Cuốn “Việt Nam tiền cổ vĩ nhân liệt truyện” ghi chép về cuộc chiến bảo vệ Giang Sơn của Thừa tướng Lữ Gia cùng quân Nam Việt như sau:7 đạo quân của nhà Hán tiến đến Kinh thành Phiên Ngung. Quân của Nam Việt phần nhiều chưa trải qua chiến trận, không thể chống lại đội quân chính quy của nhà Hán.Biết Kinh thành không thể giữ được, Thuật Dương Vương cùng Triều thần lên thuyền theo đường biển về thành Đại La. Thừa tướng Lữ Gia cùng em kết nghĩa là Nguyễn Danh Lang và các tướng vẫn ở lại chỉ huy cuộc chiến với quân Hán. Quân Nam Việt sau đó rút khỏi Phiên Ngung về phía nam, nhưng tại các vị trí trọng yếu Lữ Gia đều bố trí quân của mình chốt chặn. Vì thế quân Hán tiến binh rất vất vả và liên tục bị tiêu hao binh lực.Thấy quân Nam Việt kiên cường đánh chặn, Lữ Gia có tài không dễ thắng được, Lộ Bác Đức liền dùng mưu. Ông ta dùng của cải đút lót các tướng Nam Việt vốn thân cận với Thái hậu trước đây, để họ báo với Triệu Dương Vương rằng Lữ Gia đã bí mật hòa ước với quân Hán. Triệu Dương Vương nghi ngờ liền bãi chức Lữ Gia, cho ông làm tri huyện phủ Phong Châu; Nguyễn Danh Lang làm Huyện lệnh Thiên Thi. Nguyễn Danh Lang về đến quê thì mất, Lữ Gia thì nhận lệnh về Phong Châu. Biết quân Hán tiến xuống nam sẽ đến Phong Châu, Lữ Gia lại tập hợp binh lính xây dựng căn cứ quyết bảo vệ vùng đất này.Quân Nam Việt thiếu Lữ Gia, Lộ Bác Đức dễ dàng cho quân nam tiến, đánh vào thành Đại La. Triệu Dương Vương cùng quân Nam Việt không chống nổi phải đầu hàng. Lúc này Lộ Bác Đức cho quân đánh vào Phong Châu và dùng của cải đút lót tỳ tướng của Lữ Gia để họ làm nội gián. Khi Lữ Gia đưa quân đến bến Nhân Mục gần Đại La để phản công, quân Hán nhờ có nội gián biết trước nên mai phục đánh úp, Lữ Gia phải chạy về Phong Châu, thiệt hại binh lực rất nhiều.Không còn đủ binh chống giữ Phong Châu, Lữ Gia cùng một toán quân cố phá vây rồi chạy về phía nam. Quân Hán đuổi theo truy sát khiến Lữ Gia trọng thương. Chạy đến làng Lã Chỉ (còn gọi là Lữ Chử, nay thuộc huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) thì ông mất. Lữ Gia mặc dù đã gần 70 tuổi vẫn chống trả đến giọt máu cuối cùng.Người dân trong làng an táng cho ông, thờ cúng ở trong đình.-------------6 Nhận định Về thừa tướng Lữ Gia:- Lữ Gia là người có tinh thần độc lập dân tộc rất sớm, Có thể thấy rõ qua việc “Thái hậu người Hán muốn Nam Việt nội thuộc nhà Hán, Lữ Gia nhất định phản đối, ông cho rằng: ‘Nước Nam Việt có vua riêng, cõi riêng, lễ nghi phong tục khác với nhà Hán, há lại có thể làm quận huyện của người Bắc!’ Ở thế kỷ II TCN, khi khái niệm “nước Việt” còn rất sơ khai, lời phản đối ấy thể hiện ý thức rõ ràng về bản sắc và chủ quyền dân tộc. Lữ Gia hiểu rằng nếu để Nam Việt “nội thuộc” nhà Hán thì: Người Việt sẽ bị đồng hóa vào văn hóa Hán. Quốc gia độc lập của Bách Việt ở phương Nam sẽ bị xóa sổ. Vì vậy, ông kiên quyết chống lại mưu đồ đó, dù biết mình đối đầu với một đế chế hùng mạnh.- Ông khởi nghĩa để giữ độc lập cho Nam Việt Khi thái hậu thân Hán cùng vua Ai Vương định thần phục nhà Hán,“Lữ Gia cáo bệnh không ra triều, cùng các tướng bàn mưu giết cù thái hậu vua, lập người khác, phát binh chống Hán.” Đây không phải là cuộc đảo chính giành quyền lực cá nhân, mà là một cuộc phản kháng chính trị nhằm bảo vệ nền tự chủ của Nam Việt. Ông thà chịu mang tiếng “giết vua” trong sách Hán, còn hơn nhìn đất nước mất độc lập. Nhiều học giả hiện đại gọi hành động ấy là:“Cuộc khởi nghĩa bảo vệ độc lập đầu tiên trong lịch sử Việt Nam chống lại đế quốc Hán.” (Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, sách Lịch sử Việt Nam tập I). - Ông sớm nhận ra nguy cơ đồng hóa Hán tộc Thái hậu người Hán lúc ấy muốn “nội thuộc”, tức là biến Nam Việt thành quận huyện của Hán triều, đưa dân Hán sang cai trị, đặt luật Hán, xóa bỏ phong tục Việt. Lữ Gia hiểu rõ:Một khi chấp nhận, người Việt sẽ mất tiếng nói, mất văn hóa, mất gốc. Chính vì thế, ông kiên quyết giữ lấy bản sắc Việt, dù triều đình lúc đó đã bị Hán hóa một phần. Ông được xem là người đầu tiên đứng lên chống chính sách đồng hóa của phương Bắc.-------------7 Lời Kết:Lữ Gia là một trong những Anh hùng chống ngoại xâm đầu tiên của dân tộc Việt Nam . Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục triều Nguyễn: “Lữ Gia là người Việt, trung nghĩa, chống Hán đến chết, đáng gọi là kẻ trung thần nghĩa sĩ của nước Nam.” Và theo Viện Sử học Việt Nam: “Lữ Gia không chỉ là đại thần của Nam Việt mà là anh hùng đầu tiên của dân tộc Việt Nam chống lại ách xâm lược phương Bắc.” (trong cuốn Lịch sử Việt Nam, NXB KHXH, năm 2017) . Dù triều Nam Việt có nguồn gốc từ Triệu Đà – người phương Bắc, nhưng đến thời Lữ Gia, tầng lớp cầm quyền đã Việt hóa mạnh mẽ. Ông đại diện cho ý chí độc lập của người Việt bản địa, chống lại nỗ lực sáp nhập của nhà Hán.Tóm lại có thể khẳng định Lữ Gia là người Việt bản địa, có ý thức độc lập dân tộc rất sớm, dám chống lại nhà Hán để giữ nền tự chủ của Nam Việt. Ông xứng đáng được tôn vinh là một trong những anh hùng chống ngoại xâm đầu tiên của dân tộc Việt Nam – người mở đầu truyền thống “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” hàng nghìn năm sau.Tinh thần của Lữ Gia được tiếp nối bởi Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt...-------------8 Vinh Danh Thừa tướng Lữ Gia: Triệu Việt Vương - Triệu Quang Phục từng lập đền thờ Lữ Gia ở Đa Phúc, Sài Sơn, Quốc Oai cùng bức hoành phi “Thiên Nam Thánh Vương”. Ngày nay có rất nhiều con đường mang tên Lữ Gia. Tại Sài Gòn còn có cư xá mang tên Lữ Gia. Đường Lữ Gia ở phường 9, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, bắt đầu từ ngã tư Phan Chu Trinh, Quang Trung và Trần Quý Cáp. Các huyện Đan Phượng, Thanh Oai cũng có đền thờ thừa tướng Lữ Gia cùng câu đối ca ngợi công đức của ông: Nhất phiến trung can Côi Lĩnh tại, Thiên thu di cốt Nguyệt Giang từ. có thể hiểu như sau “Một tấm lòng trung vẫn còn cùng non nước Việt, Ngàn năm di cốt vẫn được thờ bên dòng Nguyệt Giang.”Lăng mộ + đền thờ Lữ Gia & tướng Nguyễn Danh Lang ở xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Lễ hội Nam Trì hay lễ hội Bảo, Lang, Biền là lễ hội chung của ba làng Nam Trì, Đới Khê và Bảo Tàng. Lễ hội tổ chức vào ngày 9 tháng 3 âm lịch hàng năm. Lễ gồm tế Thần và rước Thần. Tế Thần là các buổi cúng lễ ca ngợi công đức, dâng hiến lễ vật lên các vị Thần. Rước Thần là rước các vị Thần về đình Ba Xã. Đình Ba Xã xưa kia là Nhà hội đồng của hai vị Bảo, Lang và Hành cung của Cao Vương lúc sinh thời (nay là mộ hai vị thần Lang Công, Bảo Công) ở cuối làng để ba anh em vị thần thờ ở hai thôn (Bảo Tàng, Đới Khê) tụ hội. Hội là ca hát 10 ngày, đánh cờ, đấu vật...Đình Voi đá Ngựa đá làng Cam Giá thuộc xã Ninh Khánh, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình thờ Lã Gia là Thượng đẳng Tối linh Đại vương đã có công đức Bảo dân quốc hùng lược an dân. Còn rất nhiều địa phương cũng có đền thờ Lữ Gia, và tên đường mang tên ông.



