Cựu chiến binh

"Lửa căm thù” chuyển lên nòng súng

Điện Biên24/11/2025Nguyễn Sơn (Đoàn xã Thanh Nưa)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người lính trẻ Trịnh Xuân Tính, sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Hà Bình, Hà Trung, Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 5/1972, huấn luyện ở tiểu đoàn 1, Trung đoàn 15, Quân khu 3. Do tình hình chiến trường điều động nên đơn vị ông chỉ huấn luyện một tháng và đi B (vào Nam). Ông vào đến Quảng Trị cuối tháng 7/1972, đến tháng 8/1972 được bổ sung vào Trung đoàn 101, Sư đoàn 325. Lúc này, Trung đoàn 101 đang chốt giữ ở khu vực An Tiêm, Chợ Sãi, Nại Cửa của huyện Triệu Phong (khu vực này là Đông Bắc của Thành cổ Quảng Trị). Đến cuối tháng 11/1972, đơn vị được lệnh rút ra Gio Linh (Quảng Trị) để củng cố lại đội hình và bổ sung quân. Sau 20 ngày củng cố và bổ sung lại được điều sang Cửa Việt, Quảng Trị để chiến đấu. Tình hình chiến sự ở đó lúc bấy giờ rất “nóng”, Mỹ đã có kế hoạch tái chiếm khu vực này trước Hiệp định Paris. Đơn vị ông được giao nhiệm vụ giữ vững vùng cảng cửa việt đến Vĩnh Hòa, Thanh Hội và cùng với đơn vị bạn giữ vững vùng giải phóng Triệu Phong. Vốn là chiến sĩ liên lạc bên cạnh chỉ huy Trung đoàn nên ông được chứng kiến nhiều tấm gương dũng cảm của đồng đội khi chiến đấu với quân thù. Dừng lại đôi chút, ông bắt đầu kể về những ngày chiến đấu, về những đồng đội của mình…

Ông nhớ khoảng 19 giờ tối ngày 9/4/1972, Trung đội (gồm 20 người) xuất phát từ trên rừng mang theo 120 kg bộc phá xuống đánh sập cầu Quảng Trị để chặn đường rút lui và đường tiếp viện của địch. Đến khoảng 4 sáng thì đội hình của Trung đội đã cách cầu Quảng Trị khoảng 300m về phía Nam thì bị địch phát hiện. Cuộc đấu súng không cân sức diễn ra giữa một Trung đội vỏn vẹn 20 người với một tiểu đoàn địch. Đến hơn 10 giờ trưa ngày 10/4 thì Trung đội chỉ còn lại “3 tay súng". Không còn cách nào khác, các đồng chí của ta quyết định “mở đường máu” rút lui. Tuy nhiên, cả ba đều bị thương, sau đó hai người đã hy sinh. Ông Tính kể tiếp, là người may mắn sống sót, anh Vũ Quang Thành (quê Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) bị thương nặng, mảnh đạn găm vào hông trái. Anh Thành cố hết sức bò ra phía bờ sông Thạch Hãn thì nằm bất tỉnh. Quân địch phát hiện và đưa vào các nhà lao ở Đà Nẵng để tra khảo. Tra tấn, dọa dẫm lẫn thuyết phục nhưng vẫn không có kết quả, đến tháng 9/1972, địch lại đưa anh ra trại tù Phú Quốc. Ngày 10/3/1973, sau khi Hiệp định Paris ký kết, người chiến sĩ ấy đã được trả tự do. Sư đoàn 304 cũng ghi vào sổ tên của cả 20 đồng chí Trung đội Mai Quốc Ca hy sinh. Điều đáng nói, thi thể 19 anh em mình đã hy sinh bị địch kéo về gần cầu Quảng Trị phơi nắng để thị uy. Khi người dân phản đối, đấu tranh, chúng mới buộc phải cho dân ta đưa các anh đi chôn cất. Sau giải phóng, các anh đã được đưa về nghĩa trang thuộc huyện Triệu Phong. Tất nhiên, cũng có một ngôi mộ ghi tên anh Vũ Quang Thành. Sau này, đồng chí quân lực của Trung đoàn có điều kiện đi tìm gia đình của từng người trong Trung đội Mai Quốc Ca thì mới biết đồng chí Vũ Quang Thành còn sống và được trao trả năm 1973. Trong cuộc chiến đẫm máu ấy, trước khi ngã xuống, các chiến sĩ Trung đội Mai Quốc Ca đã tiêu diệt khoảng 125 tên địch, làm bị thương nhiều tên khác, phá hủy một xe quân sự, làm chậm chi viện của địch từ phía Nam ra. Với những chiến công ấy, năm 1973, Trung đội Mai Quốc Ca được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Đồng thời, phong tặng danh hiệu “Trung đội 1 thắng 100” cho Trung đội Mai Quốc Ca để tưởng nhớ chiến công của những người lính thép, ngoan cường, dũng cảm, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, lập chiến công hiển hách. Tại phía Bắc đầu cầu Quảng Trị hiện đã có một biểu tượng ghi nhớ Trung đội Mai Quốc Ca. “Nhiều lần vào thăm Quảng Trị - nơi chúng tôi đã sống và chiến đấu những năm1972 đến 1974. Nơi đây là cuộc đọ súng, đọ gan vàng, dạ sắt. Đây chính là đội cảm tử quân của Sư đoàn 304, của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tôi không thể quên được những người cảm tử quân mùng 10/4/1972”, ông Trịnh Xuân Tính rưng rưng nói.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
"Lửa căm thù” chuyển lên nòng súng | Câu chuyện thời hoa lửa