Chương một ƯỚC VỌNG 1
Một đêm vào giữa mùa xuân 1960, các tiểu đoàn "giáo phái"1 ("Giáo phái" là đơn vị vũ trang cách mạng, danh nghĩa bên ngoài là lực lượng Giáo phái Hòa Hỏa ly khai) của tỉnh Rạch Giá hành quân tới rừng Đìa Ổi. Khu rừng tràm khá rậm rạp, nhiều cây tràm lớn hơn thân người, những cây dây leo chằng chịt to bằng cổ tay cuộn quanh những thân cây nứt nẻ, trắng mốc. Khu rừng này nằm giữa ranh giới hai huyện Hòn Đất và Hà Tiên, có nhiều đường mòn của những người kiếm củi hoặc kiếm cá qua lại. Giữa rừng có đìa lớn, rất nhiều cá, những năm chiến tranh ít người đánh bắt, mỗi khi tới mùa nước cạn, cá đông đặc như sống trong chậu; xung quanh đìa có nhiều cây ổi cổ thụ, có lẽ vì thế nên khu rừng này gọi là Đìa Ổi.
Khi các tiểu đoàn hạ trại, trời đã gần sáng. Từng nhóm chiến sĩ lăn ra ngủ bên cạnh gốc tràm, cũng có vài ba người chưa ngủ, ngồi chụm đầu tán gẫu và chia nhau hơi thuốc lá khét mù.
Chính trị viên Ba Ca (Nguyễn Văn Khoảnh) ngồi tựa lưng vào gốc tràm, mắt anh khép hờ nhìn lên một mảng trời hừng đông rực rỡ.
Gần một tháng liền lãnh đạo học Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, rồi tiếp việc triển khai nghị quyết cho tới hôm nay, Ba Ca mới thấy có chút thời gian rảnh rỗi cho riêng mình. Tự nhiên cái quá khứ nặng nề khắc nghiệt lại kéo anh về với chúng; những biến cố lịch sử, những đổi thay của cuộc đời mình cứ trôi bồng bềnh trong tâm tưởng.
... Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam tháng 7 năm 1954 như một trái chín thơm ngon nhưng khó nuốt, anh chưa kịp hiểu hết ý nghĩa thắng lợi của nó, đã nhận lệnh đi tập kết. Lúc này rất nhiều người muốn được đi tập kết với động cơ khác nhau, riêng đối với anh, nó như một trách nhiệm lạnh lùng, không rõ nên vui hay buồn. Đúng hơn là, tình cảm của anh lúc đó đang bị xáo trộn ghê gớm. Anh biết rõ, khi lực lượng vũ trang của ta chuẩn bị tập kết, ta rút tới đâu, quân Hòa Hảo lấn chiếm đến đấy.
Một vùng rộng lớn nối liền xã Mỹ Hiệp Sơn - quê anh, với xã Nam Thái Sơn đã được giải phóng từ ngày 9 tháng 8 năm 1948, từ đó giặc Pháp và quân Hòa Hảo thèm rỏ rãi, nhưng vẫn phải đứng ở xa không làm gì nổi. Đến nay (1960) bọn chúng tới chiếm đóng không phải tốn một viên đạn. Hai năm vắng mặt lực lượng vũ trang cách mạng, hai năm quê hương mình, người thân thích ruột thịt của mình sống trong tay giặc, không hiểu những gì sẽ diễn ra... Những ngày chờ đợi xuống tàu ra miền Bắc, trong đầu anh không ngừng suy tưởng tới những năm tháng dài đằng đẵng ấy.
Khi khăn gói chuẩn bị lên đường đi tập kết, anh không có niềm vui háo hức, nhưng đột nhiên anh nhận lệnh "ở lai" trong đầu anh lại rối bời đầy nỗi lo âu. Dù trên có động viên "Ra đi cũng vinh quang, ở lại càng vinh quang", lúc này anh không nhận thức nổi điều đó.
Khăn gói trên vai, anh trở lại vùng quê. Vẫn vùng đất thân thương ấy cách đây vài tháng, người người đông vui, đến bây giờ trên giồng Mớp Giăng vắng ngắt, dường như cây cỏ cũng vàng vọt khô héo. Ba Ca cảm thấy mình lẻ loi một cách đáng sợ, ban ngày dấu mặt trong nhà, đêm đêm đi thăm dò tìm kiếm bắt liên lạc với tổ chức. Tìm hoài, tìm hoài anh chẳng liên lạc được với ai, anh lại xách khăn gói lặng lẽ đến rừng U Minh với hy vọng tìm được cơ quan lãnh đạo, hỏi xem mình phải làm gì và liên lạc với ai. Hàng tháng ròng mò mẫm tìm kiếm, không gặp một ai là người quen thuộc.
Trở về quê, anh tự vạch cho mình một chương trình hành động, tự mình hàng ngày đi tuyên truyền tổ chức quần chúng như hồi kháng chiến chống Pháp đã làm. Khoảng tháng 6 năm 1955 anh đã liên lạc được với Năm Bực, bí thư chi bộ, nhưng vẫn chưa được sinh hoạt Đảng. Cùng khoảng thời gian ấy, lực lượng Hòa Hảo bị quân Ngô Đình Diệm đánh tan. Một toán quân Hòa Hảo lẩn lút ở xã Mỹ Hiệp Sơn. Ba Ca đã thu được ba khẩu súng của chúng. Một khẩu tiểu liên tôm-xơn, một khẩu súng trường, một khẩu súng ngắn còn ngon lành. Đối với anh lúc này những khấu súng vừa thu được còn quý hơn vàng, ngay cả thời kỳ đánh Pháp trước đây, đội du kích xã anh cũng chưa bao giờ thu được một lúc chừng ấy khẩu súng. Có súng trong tay, niềm hy vọng trong anh lớn vụt lên, anh sẽ tổ chức lại du kích xã (như trước đây anh đã là xã đội phó) và sẽ làm cho chi bộ Đảng hiểu mình hơn.
Được tin Ba Ca lấy được súng của bọn Hòa Hảo, Năm Bực tới gặp, không một lời động viên khen ngợi, trái lại còn phê bình "tư tưởng vũ trang bạo lực lúc này là manh động"; không chỉ có thế, Năm Bực còn buộc anh đem súng trả lại cho bọn Hòa Hảo. Anh đành khóc thầm mà chấp hành chỉ thị của tổ chức.
Vài tháng sau Ba Ca được sinh hoạt Đảng và thay Năm Bực làm bí thư chi bộ, anh tự trách mình "trả súng bọn Hòa Hảo là một hành động hữu khuynh" giá giữ được mấy khẩu súng đó, anh sẽ tổ chức đội du kích bí mật. Nhưng dù sao điều ước vọng đó cũng chỉ là điều thầm kín, không hề giống với đường lối của Đảng. Bởi thời kỳ này Đảng nghiêm cấm đấu tranh vũ trang. Mặc dầu anh khao khát ước vọng được đấu tranh vũ trang, nhưng vẫn phải kìm nén để lãnh đạo quần chúng đấu tranh chính trị. Xã Mỹ Hiệp Sơn rất nhiều lần huy động hàng trăm phụ nữ cùng phụ nữ các xã của toàn huyện kéo tới Tri Tôn và thị xã Rạch Giá biểu tình đòi dân sinh dân chủ. Có 24 lần phụ nữ của xã anh do chị Kim Phụng dẫn đầu đã tới cổng dinh tổng thống, biểu tình buộc chúng phải bồi thường hoa màu và nhà cửa bị bọn lính ngụy đốt phá...
Những năm đấu tranh chính trị đơn thuần, anh thấy ít suy suyển tới sức mạnh và sự tàn ác của bọn Mỹ - ngụy; trái lại mỗi lần đấu tranh ta đều phải trả giá bằng ít nhiều sinh mệnh và sự tù đày. Và quần chúng ngày càng ít tin vào đấu tranh bằng phương pháp hòa bình có thể đem lại thống nhất độc lập cho Tổ quốc.
... Nghĩ tới đó Ba Ca thấy rùng mình: "nếu Nghị quyết 15 của Trung ương chậm một chút nữa, thì phong trào cách mạng của huyện sẽ khó tránh khỏi tan vỡ". Tháng 8 năm 1959 anh được chỉ định giữ chức Bí thư Huyện ủy, giữa lúc bọn Ngô Đình Diệm thực hiện luật "10/59" ở thời kỳ tàn bạo nhất. Chúng bắt bớ, chém giết bất kể người nào chúng nghi ngờ liên quan với cộng sản. Sự khủng bố của chúng đã tạo ra một bóng đen chết chóc khủng khiếp bao trùm lên huyện Hòn Đất. Xã Nam Thái Sơn vốn là xã có phong trào cách mạng vững vàng nhất toàn huyện, đến lúc đó gần như hoàn toàn tê liệt. Tên Thu, bí thư chi bộ Nam Thái Sơn, tên Kheng, tên Dệ là cán bộ trung đội của tiểu đoàn Thanh Long "giáo phái" đóng quân ở rừng Nam Thái đã ra đầu hàng địch và quay trở lại đánh phá phong trào. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Lửa của đất« Trả lời #3 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2021, 07:18:42 pm » | Đầu năm 1960, Ba Ca được Tỉnh ủy điều động về làm chính trị viên kiêm bí thư liên chi lực lượng vũ trang "giáo phái" của tỉnh. Từ lâu anh đã có mối quan hệ với tiểu đoàn1 (Các tiểu đoàn "giáo phái" thực chất quân số chỉ có khoảng một trung đội) Thanh Long, con đỡ đầu của huyện Hòn Đất. Khi nhận nhiệm vụ này anh mới biết, tỉnh còn ba tiểu đoàn khác, là: tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng, Ngô Sở, Thất Sơn (mỗi tiểu đoàn chỉ có quân số khoảng một trung đội). Được về bổ sung vào lực lượng vũ trang, Ba Ca vui mừng khôn xiết: "Thế là thỏa nỗi ước mong bấy lâu nay".
... Nghe tiếng ngáy đều đều, Ba Ca bất giác nhìn khuôn mặt thanh tú của Thái Quý. Anh thầm mến phục người bạn, người đồng chí đã có công lớn xây dựng nên lực lượng vũ trang "giáo phái”. Năm 1956, khi Ngô Đình Diệm mở chiến dịch tảo thanh các lực lượng giáo phái, Tỉnh ủy đã giao cho Chín Quý và một số đồng chí khác, với danh nghĩa là người của Mặt trận Việt Minh tiếp xúc với Ba Cụt, thủ lĩnh Hòa Hảo để lập mặt trận liên minh chống Mỹ - Diệm. Giữa lúc quân Hòa Hảo đang hoang mang dao động, phần vì sợ lực lượng Ngô Đình Diệm, phần vì nguồn tiếp tế lương thực của chúng đã cạn, họ đã nhận số cán bộ của ta vào làm cố vấn quân sự cho trung đoàn Lê Quang (Hòa Hảo). Ta biết rõ tim đen của bọn Ba Cụt, chúng chỉ tạm thời dựa vào ta để khắc phục khó khăn về lương thực, và lấy ta làm đối trọng để đặt giá khi có thương lượng với Diệm. Nhưng dưới sự đạo diễn khéo léo của nhóm Chín Quý, trung đoàn Lê Quang đã đánh quân Diệm một số trận, như trận Vườn Cò (Long Mỹ), trận Xẻo Tân (huyện Giồng Riềng), nhất là trận Cây Bàng (An Biên) đã thắng lớn, loại quân Diệm ra khỏi vòng chiến khoảng một nghìn tên và thu rất nhiều chiến lợi phẩm. Tài năng của cán bộ quân sự "Việt Minh" qua trận Cây Bàng có sức hấp dẫn lớn đối với binh sĩ Hòa Hảo. Sau trận Cây Bàng ít lâu, Ba Cụt, thủ lĩnh Hòa Hảo đã bị Ngô Đình Diệm chiêu hàng rồi xử chém tại Cần Thơ. Khi mất chủ tướng quân Hòa Hảo đã tan rã. Tỉnh ủy Rạch Giá chỉ thị cho bộ phận của Chín Quý vận động số sĩ quan và binh sĩ Hòa Hảo có cảm tình với cách mạng, tổ chức thành những đơn vị ly khai...
Một loạt đạn tiểu liên nổ từ phía kinh Tâm Ngàn dội tới, dứt Ba Ca khỏi dòng suy nghĩ triền miên. Anh vùng đứng dậy, đi về phía mấy chiến sĩ của tiểu đoàn Thanh Long đang ngồi chuyện trò ở gần đó.
Ba Trung và Năm Dạ đang chia nhau mồi thuốc. Hai anh là người cùng quê ở xã Sóc Sơn, cùng ở tiểu đoàn Thanh Long. Năm Dạ hai mươi tám tuổi, hơn Ba Trung chừng ba tuổi, nên trong cách cư xử bao giờ Ba Trung cũng coi Năm Dạ là bậc đàn anh. Không phải riêng Ba Trung là người cùng làng, mà nhiều anh em khác cũng tỏ ra quý trọng Năm Dạ, bởi anh có cái gì đó dễ cuốn hút mọi ngươi.
Nhìn khuôn mặt đẹp trai rám nắng, và đôi mắt to đen chân thật của Năm Dạ, Ba Trung chợt nhớ tới trận đói hồi tết năm ngoái, cùng khoảng thời gian thằng Thu, bí thư chi bộ Nam Thái Sơn, thằng Khen, thằng Dệ của tiểu đoàn Thanh Long đầu hàng địch, làm cho tiểu đoàn Thanh Long bị cắt quan hệ với cơ sở quần chúng, và từ đó tiểu đoàn mất nguồn tiếp tế. Thời gian đó anh em cũng ở Đìa Bà. Tới gần tết cả đơn vị không còn một hạt gạo nào, hàng ngày họ phải ra đìa móc ngó sen và kiếm cá ăn trừ bữa. Một lần đúng vào ngày hai mươi tám tết, anh em vừa ở trong rừng ra, thấy có bốn cô gái đang tát cá. Năm Dạ nói với anh em:
- Phải gặp mấy cô gái này may ra móc nối được với cơ sở.
Năm Dạ bước nhanh vượt lên trước.
Mấy cô gái tưởng anh em là lính ngụy, ù té chạy. Năm Dạ cùng anh em chạy đón đầu, ngăn các cô lại. Năm Dạ giang rộng hai tay và nói to:
- Việc gì phải chạy nào. Xem người ta có phải là ngụy hay bọn ăn cướp không.
Các cô gái người nào người nấy mặt xám ngoét cắt không được một hột máu, không ai đáp lời Năm Dạ.
Năm Dạ nói dịu giọng:
- Các chị cứ dòm đi, xem chúng tôi là hạng người nào. - Năm Dạ nhìn về các bạn mình rồi lại nhìn mấy cô gái rồi nói tiếp - Chẳng có thì giờ nói với nhau dài dòng, xin tự giới thiệu với các chị, chúng tôi là người của cách mạng. Mấy hôm trước chúng tôi vẫn liên lạc với người của ông Sáu Thiêm và ông Ba Lời.
Một cô gái mạnh dạn nhìn từ đầu tới chân những người đàn ông đang đứng trước mình. Cô thấy người nào cũng xanh xao gầy guộc, ăn vận rách rưới. Chừng như cô cảm nhận được những người này không phải là người xấu, nên thái độ của cô bình tĩnh hơn.
Cô gái nói:
- Ông nói các ông liên lạc với ông Sáu Thiêm và ông Ba Lời tôi cũng biết vậy. Ông Sáu Thiêm1 (Sáu Thiêm: một đảng viên già kiên cường nổi tiếng của xã Nam Thái Sơn) và ông Ba Lời thì cả Tri Tôn này ai mà không biết.
Nghe cô gái nói giọng miền Bắc, Năm Dạ yên tâm, "mấy cô gái chắc chắn là dân Nam Thái Sơn”, anh càng hy vọng móc nối được với cơ sở.
- Thôi bây giờ thế này hen. - Năm Dạ nói. - Chẳng có cách gì để cho các chị hiểu được chúng tôi là ai. Tôi xin nói thiệt tình chúng tôi đã hết sạch lương thực rồi, nếu những ai còn thương yêu cách mạng, hãy mang giúp chúng tôi một ít lương thực. Đem đến chỗ này, tối chúng tôi nhận.
Cô gái nói đắn đo:
- Chúng tôi giúp các ông, rồi người của các ông đi đầu hàng "quốc gia" trở lại chỉ chọc cho người ta bắt chúng tôi đưa vào tù.
Năm Dạ phân trần:
- Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn. Vừa qua trong hàng ngũ cũng còn có kẻ hèn nhát, không chịu được khó khăn gian khổ, đã trở thành kẻ phản bội nhân dân, phản bội Tổ quốc. Nhưng đó không phải là tất cả mọi người cách mạng, không nên lấy hành động tội lỗi của mấy tên phản bội ấy để xem xét tất cả những người cách mạng. Ở trường hợp các chị đánh giá chúng tôi như thế nào đây... khó thiệt. Tùy tấm lòng các chị. Thôi các chị đi kiếm cá, chúng tôi cũng phải đi kiếm rau.
Trong hoàn cảnh cực kỳ khắc nghiệt, việc gặp gỡ mấy cô gái cũng chỉ nói với nhau được vài câu không đầu, không cuối như vậy, nhiều anh em nghĩ: cũng chỉ là chuyện gió bay lên trời, chẳng có hy vọng gì, trái lại Năm Dạ rất tin. Anh nói với anh em:
- Tôi nay mấy cậu ra chỗ đó, thể nào nhân dân cũng mang gạo ra cho chúng ta. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Lửa của đất« Trả lời #4 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2021, 07:19:27 pm » | Tết đến nơi rồi, chẳng ai quên được cái tục lệ ngàn đời ấy. Anh em không ước ao bánh trái gì nhiều... mà chỉ ước ao mấy ngày tết được ăn những bữa cơm rau no nê. Nói tới việc nhân dân sẽ cho người mang gạo tới, dù đó chỉ là hy vọng mong manh cũng làm cho mọi người thấy vui hơn. Họ xúm lại bàn tán, mường tượng cái giờ phút hồi hộp ấy. Ai cũng biết những ngày này bọn ngụy đang bắt bớ, bắn giết nhiều người trong xã, và những người trong ấp chiến lược không khác gì trong nhà tù, mỗi người dân không dễ gì có thể lọt ra khỏi hàng rào, nhưng họ vẫn phân công nhau tới chỗ hẹn để tìm vận may.
Ba Trung và Minh (Bụng) núp kín vào sau lùm cây, chò đợi. Nghe tiếng phụ nữ nói xầm xì, Ba Trung chặc lưỡi hai tiếng. Đôi bên nhận được ám hiệu của nhau. Một cô gái lên tiếng:
- Đúng mấy anh hồi sáng. Tôi tưởng các anh không dám đến chỗ hẹn.
Cô gái đã đối thoại với Năm Dạ ban sáng đứng ra giao cho Ba Trung số bánh chưng và khoảng mười lít gạo. Ba Trung nhận món quà từ tay cô gái mà anh vẫn thấy bàng hoàng như trong giấc mơ. Không thể ngờ lại có sự may mắn như vậy, các cô gái đứng trước mặt anh chẳng khác nào ông bụt trong chuyện Tấm Cám.
Một cô gái vừa nói vừa khóc:
- Em về nói chuyện với mẹ em về việc gặp các anh buổi sáng. Mẹ em bảo đã lâu các anh không được tiếp tế, chắc các anh mày đói lắm rồi. Mấy đứa xem có cách gì tiếp tế cho các anh ấy.
Một cô gái khác nói cắt ngang:
- Nhân dân chẳng tiếc gì các anh... chỉ có điều mong mỏi, nếu anh nào không chịu đựng nổi khó khăn gian khổ thì tìm một nơi nào thật xa mà làm ăn, đừng có đầu hàng.
Câu chuyện cũ còn sống động trong trí nhớ của Ba Trung. Anh xúc động nói với Năm Dạ:
- Cái tết vừa rồi, nếu không gặp mấy cô gái, thì không hiểu còn chịu đói kéo dài tới bao lâu nữa.
Năm Dạ nhìn khuôn mặt tròn, trắng trẻo của Ba Trung vài giây rồi anh mỉm cười, nói:
- Cậu có nhớ mặt cô nào không? Biết đâu sau này hòa bình người bạn gái mà cậu làm quen ngày hôm ấy, lại chẳng trở thành người bạn đời.
- Quên chẳng hỏi tên một cô nào, nhưng thế nào cũng có ngày về Nam Thái Sơn sẽ tìm ra được mấy cô.
Ba Ca vừa bước chầm chậm vừa lướt nhìn những chiến sĩ đang ngủ, rồi dừng lại trước mặt đôi bạn đang tâm sự. Anh nói vui:
- Chuyện gì vui thế, cho mình góp với nghen?
- Xin mời anh. - Năm Dạ xê dịch có ý mời Ba Ca ngồi lên đệm lá khô và nói tiếp. - Không ngủ được, chúng tôi nói chuyện tầm phào cho vui.
Ba Ca ngồi bệt xuống và lấy tay vỗ vỗ vào chỗ đũng quần của Ba Trung bị rách toạc một mảng lớn. Anh vừa cười vừa nói vui vẻ:
- Không vá vô sắp lòi... ra đến nơi rồi.
Ba Trung đáp: |
|
|