Lửa Điện Biên
Hành trình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua ba phần: tiểu sử, hoạt động cách mạng và những chiến công nổi bật, từ kháng chiến chống Pháp với Điện Biên Phủ đến kháng chiến chống Mỹ.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại làng Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán, sau đó theo học trường Quốc Học ở Huế, nơi ông tiếp xúc với các tư tưởng yêu nước và cách mạng.
Năm 1930, ông bị đuổi học vì tham gia hoạt động chính trị. Sau đó ông sang Hà Nội học Luật và Kinh tế chính trị tại Đại học Đông Dương, đồng thời dạy học ở trường Thăng Long và tham gia các tổ chức yêu nước. Thời gian làm giáo viên lịch sử đã giúp ông hiểu sâu về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Gia đình ông cũng chịu nhiều mất mát vì cách mạng. Mẹ ông và người vợ đầu tiên của ông đều bị thực dân Pháp bắt giam và qua đời trong tù. Ông gia nhập tổ chức cách mạng từ đầu những năm 1930 và bị thực dân Pháp bắt giam, sau đó bị trục xuất khỏi Đông Dương. Ông sang Trung Quốc, nơi ông gặp Nguyễn Ái Quốc, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh, và được giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng cách mạng. Năm 1941, ông trở về nước hoạt động ở Pác Bó, Cao Bằng, cùng Bác Hồ xây dựng căn cứ địa cách mạng và tổ chức lực lượng vũ trang. Trong thời gian này, ông tham gia biên soạn tài liệu, mở lớp đào tạo cán bộ và củng cố tổ chức Đảng ở các địa phương. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Bác Hồ, ông thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông trở thành người chỉ huy đầu tiên của đội quân non trẻ này. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lực lượng vũ trang do ông chỉ huy phối hợp với nhân dân nổi dậy giành chính quyền trên cả nước. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ông tham gia Chính phủ lâm thời và đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc phòng, nội vụ.
Có những con người sinh ra để đứng trước lịch sử, nhưng cũng có những con người phải tự đi qua từng gian khó để xứng đáng với lịch sử. Đọc về những hoạt động nổi bật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người ta thường thấy hình ảnh vừa lớn lao vừa gần gũi: một người thầy dạy sử, cầm bản đồ và chiếc bút chì, đứng giữa núi rừng để viết nên những trang sử mới. Trong kháng chiến chống Pháp, ông không chỉ là người lên kế hoạch. Ông hiểu rằng chiến tranh nhân dân chỉ thắng khi có lòng dân. Những chiến dịch như Việt Bắc Thu Đông, Biên giới hay Hòa Bình hiện lên như những bước chân đầu tiên, chắc chắn và kiên nhẫn, đặt nền móng cho niềm tin rằng quân ta hoàn toàn có thể đánh thắng kẻ thù mạnh hơn về trang bị. Điện Biên Phủ là nơi những hình ảnh ấy được thử thách rõ nhất. Khó có ai quên được cảnh những khẩu pháp nặng hàng tấn được kéo lên các đỉnh đồi bằng tay, bằng vai, bằng những chiếc xe thồ kêu cót két trên đường rừng. Đằng sau những con số về quân số, lương thực, đạn dược là mồ hôi của người nông dân, của những chàng trai mười tám đôi mươi, của những người mẹ gùi gạo qua từng dốc núi. Chiến thắng ấy vì thế không chỉ là thắng lợi của tài thao lược, mà còn là thắng lợi của niềm tin và sự đoàn kết. Đại tướng là một người dám làm điều nhiều người cho là liều lĩnh: đánh một trận lớn ở nơi xa xôi, giữa thung lũng bị bao vây, với đường tiếp tế gian nan. Chính sự dám nghĩ dám làm, kết hợp với sự tính toán tỉ mỉ đến từng chi tiết, đã làm nên một trong những chiến thắng vang dội nhất thế kỷ XX. Trong kháng chiến chống Mỹ, những chiến dịch lớn như Mậu Thân 1968 hay Hồ Chí Minh 1975 cho thấy một cách nhìn xuyên suốt: chiến tranh là bài toán của lòng dân, của thời gian và của sức mạnh tổng hợp. Ông không chỉ đánh bằng súng đạn, mà còn bằng trí tuệ và sự kiên trì.
Điều để lại nhiều suy nghĩ nhất là hình ảnh một vị tướng không ngừng học hỏi, không ngừng đúc kết kinh nghiệm, để lại cho đời sau những công trình về nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đó là một di sản cần được biết ơn, và cũng đặt ra trách nhiệm cho thế hệ hôm nay: gìn giữ lòng yêu nước, tinh thần tự lực tự cường và khát vọng hòa bình.



