LUẬT SƯ, NHÀ NGOẠI GIAO NGUYỄN VĂN LƯU – CẬN VỆ TRƯỞNG NỀN NGOẠI GIAO CÁCH MẠNG
LUẬT SƯ, NHÀ NGOẠI GIAO NGUYỄN VĂN LƯU – CẬN VỆ TRƯỞNG NỀN NGOẠI GIAO CÁCH MẠNG
Trong biên niên sử của ngành Ngoại giao Việt Nam, Luật sư Nguyễn Văn Lưu (?-?) là một trong những viên gạch nền móng đầu tiên, một trí thức yêu nước kiên trung đã cống hiến trọn đời cho mặt trận ngoại giao cam go từ những ngày đầu lập quốc. Thuộc thế hệ cán bộ tiền bối "khai sơn phá thạch", ông không chỉ là người trợ thủ đắc lực bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày chính phủ non trẻ đối mặt với thù trong giặc ngoài, mà còn là nhà luật học, nhà ngoại giao xuất sắc đại diện cho ý chí và luật pháp quốc tế của Việt Nam trên diễn đàn Liên Hợp Quốc.
Lịch sử ghi nhận Luật sư Nguyễn Văn Lưu là 1 trong 20 cán bộ đầu tiên đặt nền móng cho Bộ Ngoại giao Việt Nam ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Khi đó, cơ cấu tổ chức sơ khởi của Bộ mang tên Tổ Tham nghị (hay Ban Nghị sự), và ông vinh dự là 1 trong 5 nhân vật có vai trò tối cao dẫn dắt tổ chức này bên cạnh các đồng chí Bùi Lâm, Trần Đình Long, Tạ Quang Bửu và Nguyễn Đức Thụy. Với năng lực quản lý và tư duy nhạy bén, ông được tin tưởng giao giữ trọng trách Tổng Thư ký. Giai đoạn khốc liệt từ năm 1945 đến năm 1947, khi vận mệnh đất nước như "ngàn cân treo sợi tóc", Luật sư Nguyễn Văn Lưu đảm nhiệm cương vị Tổng Thư ký Văn phòng (tương đương Chánh Văn phòng ngày nay) Bộ Ngoại giao, đồng thời là Chánh Văn phòng Chủ tịch Chính phủ, sát cánh cùng Bác Hồ điều hành các công việc quốc gia đại sự trước khi bàn giao lại cho ông Phan Mỹ.
Nửa cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, khi mặt trận ngoại giao dịch chuyển sang giai đoạn mở rộng quan hệ quốc tế, ông tiếp tục được tổ chức tin tưởng giao phó những sứ mệnh đặc biệt. Từ cuối năm 1953 đến đầu năm 1954, Chính phủ Việt Nam chủ trương mở 3 “Biện sự sứ” (cơ quan tương đương Tổng Lãnh sự quán) tại Trung Quốc gồm Côn Minh (Vân Nam), Quảng Châu (Quảng Đông) và Nam Ninh (Quảng Tây).
Nguyễn Văn Lưu được điều động trực tiếp phụ trách Biện sự sứ tại Nam Ninh, góp phần xây dựng mạch máu giao thông và ngoại giao quan trọng của ta tại cửa ngõ biên giới. Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, năm 1956, khi lớp đào tạo cán bộ ngoại giao chính quy đầu tiên được thành lập tại trường Bưởi (do đồng chí Ung Văn Khiêm làm Hiệu trưởng, đồng chí Đinh Nho Liêm làm Phó Hiệu trưởng), Luật sư Nguyễn Văn Lưu đã tham gia với tư cách giảng viên cốt cựu, truyền dạy kiến thức pháp lý và kinh nghiệm đối ngoại cho thế hệ ngoại giao trẻ.
Bản lĩnh của một luật sư am tường luật pháp quốc tế đã giúp ông trở thành "kiến trúc sư" cho nhiều đơn vị nghiên cứu chiến lược của Bộ. Năm 1966, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt, Vụ Nghiên cứu tư liệu được thành lập và ông được bổ nhiệm làm Vụ trưởng đầu tiên.
Đến tháng 2 năm 1975, ngay trước thềm đại thắng, một cơ quan lập pháp đối ngoại chuyên sâu được thành lập với tên gọi đầy đủ là “Vụ Tổ chức quốc tế, Hội nghị quốc tế, Điều ước và Luật pháp quốc tế”, Luật sư Nguyễn Văn Lưu tiếp tục được chọn mặt gửi vàng giữ chức Vụ trưởng để chuẩn bị cho các bước đi ngoại giao tầm chiến lược hậu chiến.
Sứ mệnh lịch sử lớn lao nhất trong cuộc đời ngoại giao của ông gắn liền với cuộc đấu tranh giành vị thế chính thức cho Việt Nam trên trường quốc tế. Tháng 7 năm 1975, hai miền Nam - Bắc cử phái đoàn đến trụ sở Liên Hợp Quốc (New York) để vận động quốc tế kết nạp. Khi đó, đồng chí Đinh Bá Thi đại diện cho Cộng hòa miền Nam Việt Nam, còn Luật sư Nguyễn Văn Lưu là người đại diện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đến năm 1976, sau khi hai chính thể sáp nhập thành nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất, cuộc đấu tranh ngoại giao tại LHQ vẫn diễn ra vô cùng phức tạp.
Năm 1978, trước biến cố Đại sứ Trưởng phái đoàn Đinh Bá Thi vướng phải vụ án tình báo Trương Đình Hùng và phải về nước, Luật sư Nguyễn Văn Lưu đã được Bộ Chính trị tin tưởng giao trọng trách kế nhiệm vai trò Trưởng đoàn đại diện Việt Nam tại Liên Hợp Quốc. Trên cương vị đầy sóng gió này, bằng kiến thức luật pháp uyên bác và phong thái ngoại giao đĩnh đạc, ông đã kiên cường bảo vệ lợi ích quốc gia, khẳng định vị thế chính đáng và tiếng nói chính nghĩa của một nước Việt Nam độc lập, thống nhất trước toàn thế giới.



