LỰC LƯỢNG ĐẶC CÔNG TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN 1975
Đặc công là binh chủng chiến đấu “Đặc biệt tinh nhuệ” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiêu biểu của nghệ thuật tác chiến đặc công là: “Lấy ít đánh nhiều, lấy chất lượng thắng số lượng, lấy thô sơ thắng hiện đại”...
QĐND - Đặc công là binh chủng chiến đấu “Đặc biệt tinh nhuệ” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiêu biểu của nghệ thuật tác chiến đặc công là: “Lấy ít đánh nhiều, lấy chất lượng thắng số lượng, lấy thô sơ thắng hiện đại”.Trong thời điểm quân và dân cả nước đang chuẩn bị bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Hội nghị tổng kết Đặc công lần thứ hai đã đánh giá: Thành công lớn nhất của đặc công là trong hai năm 1973-1974, hệ thống tổ chức lực lượng Đặc công phát triển hoàn chỉnh, đồng bộ, chất lượng được nâng lên tạo được thế sâu hiểm và vững chắc, cơ quan chỉ huy, chỉ đạo các cấp có kinh nghiệm sử dụng lực lượng Đặc công, trang bị vũ khí được cải tiến đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, đồng thời đã tạo được thế và lực mới để sẵn sàng tiến công địch.Ngày 5-6-1974, Tiểu đoàn Đặc công Biệt động 1 được nâng cấp thành Đoàn Đặc công Biệt động 1. Ở miền Nam, lực lượng Đặc công tiếp tục củng cố và phát triển. Ngày 20-3-1974, Bộ chỉ huy Miền quyết định thành lập Lữ đoàn Đặc công Biệt động 316 làm nhiệm vụ hoạt động tác chiến ở vùng ven và nội đô Sài Gòn. Lực lượng gồm có 4 tiểu đoàn đặc công vùng ven, 13 cụm biệt động nội đô. Tháng 4-1974, Bộ chỉ huy Miền ra quyết định chuyển Đoàn Đặc công 27 thành Sư đoàn Đặc công 2 (bao gồm 7 trung đoàn).Ở Tây Nguyên, ngày 19-8-1974, Trung đoàn Đặc công 198 ra đời, làm nhiệm vụ cơ động trên chiến trường Tây Nguyên. Như vậy, trước ngày Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, lực lượng Đặc công ở miền Nam gồm có 1 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 5 trung đoàn, 36 tiểu đoàn, 121 đại đội và hàng trăm trung đội, tiểu đội, tổ Biệt động của huyện, thị, xã phường. Đây chính là công tác tổ chức chuẩn bị và tập trung lực lượng Đặc công cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với quy mô lớn, có kế hoạch chặt chẽ, chu đáo, toàn diện, tập trung cao nhất cho chiến dịch.Ngày 10-3-1975, ta quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên, thực hiện cách đánh hiệp đồng binh chủng, với luồn sâu đánh hiểm, bất ngờ táo bạo từ bên trong, tạo điều kiện cho các đơn vị đột phá từng mục tiêu chủ yếu.Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ đội Đặc công được xác định là một lực lượng quan trọng của chiến dịch, được sử dụng đánh chiếm, trụ giữ một số mục tiêu then chốt, quan trọng trong thị xã, khống chế phá hoại sân bay, kho tàng, sở chỉ huy, kiềm chế nghi binh thu hút địch. Trung đoàn Đặc công 198 được giao nhiệm vụ đánh trận mở màn chiến dịch, ngay từ ngày đầu sử dụng đồng thời Tiểu đoàn 4, 5, 27 bí mật luồn sâu lót sát các mục tiêu, bất ngờ nổ súng đánh chiếm Sân bay thị xã Buôn Ma Thuột, Sân bay Hòa Bình, kho đạn Mai Hắc Đế, căn cứ Trung đoàn 44, Trung đoàn 53, Sư đoàn 23 ngụy, thực hiện chia cắt địch trong thị xã Buôn Ma Thuột. Ở Plei-cu - Kon Tum, sử dụng 2 tiểu đoàn Đặc công tập kích bí mật kho xăng Pơ-ti-cơ-rông tập kích hỏa lực vào Sân bay Cù Hanh (Kon Tum), đánh chiếm Trung tâm truyền tin PuPđrăng; ở Đức Lập, 1 tiểu đoàn Đặc công đánh cụm quân địch ở Đắc Soong. Tham gia chiến dịch cùng Trung đoàn Đặc công 198 còn có 1 sư đoàn, 2 trung đoàn bộ binh, 2 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn cao xạ và một số tiểu đoàn xe tăng. Trong các chiến dịch Trị Thiên-Huế, Đà Nẵng, lực lượng Đặc công Quân khu 5, Tiểu đoàn 35 Bộ tư lệnh Đặc công, Tiểu đoàn 10, Tiểu đoàn 33 của Trị Thiên trực tiếp tham gia chiến dịch. Ngày 29-3-1975, các tiểu đoàn 35, 471, 489 đã tham gia đánh chiếm một số mục tiêu quan trọng như: Phước Tường, Sủng Mây, Sân bay Đà Nẵng, trung tâm huấn luyện Hòa Cầm, cầu Trịnh Minh Thế. Từ ngày 11 đến 29-4-1975, Đội 4-Đoàn 126 Đặc công Hải quân và 1 phân đội của Đặc công Quân khu 5, phối hợp hiệp đồng thực hành đánh chiếm lại các đảo: Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, giải phóng quần đảo Trường Sa.



