Anh hùng Lực lượng vũ trang

Lực lượng giao bưu thông tin liên lạc tỉnh Đồng Nai

Lực lượng giao bưu thông tin liên lạc tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai02/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuối năm 1954, Xứ ủy Nam bộ và Liên Tỉnh ủy miền Đông quyết định tách Thủ Biên, lập lại hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một. Lúc này ở tỉnh Biên Hòa, lực lượng giao liên hầu như phải xây dựng lại mới với nhiệm vụ: Xây dựng cơ sở trong dân để làm căn cứ cho Tỉnh ủy đến ở và làm việc, luôn có điểm dự bị để di chuyển khi bị lộ; xây dựng một hệ thống giao liên công khai, đi lại hợp pháp để đưa đón cán bộ và đi thư về liên Tỉnh ủy, xuống các Huyện ủy.

Từ năm 1955, cơ quan của Tỉnh ủy Biên Hòa dời căn cứ tới đâu, ban giao liên phải chuyển các trạm đầu mối theo tới đó để phục vụ kịp thời cho Tỉnh ủy chỉ đạo phong trào.

Những năm 1958-1959, Tỉnh ủy về đóng ở xã Hiệp Hòa, nhiều gia đình ấp Đá Hàn là cơ sở nuôi chứa cán bộ do Ban Giao liên xây dụng để liên lạc và đón cán bộ khi về Tỉnh ủy làm việc.

Tháng 5/1955, giao liên Biên Hòa đưa thành công đồng chí Nguyễn Trọng Tâm, cán bộ binh vận của Xứ ủy về Long Thành, tìm cách liên lạc với nhóm Bình Xuyên ly khai; từ cơ sở giao liên là nhà chị Mười Ánh Tuyết ở Nhơn Trạch, các đồng chí Vũ Hồng Phô, Nguyễn Văn Thông đưa đoàn cán bộ phụ trách binh vận vận động được trung tá Võ Văn Môn, tham mưu trưởng Bình Xuyên, đồng ý đưa tiểu đoàn 3 Bình Xuyên về hợp tác với cách mạng chống chính quyền Ngô Đình Diệm.

Tháng 8/1955, Ngô Đình Diệm mở chiến dịch Hoàng Diệu đánh vào Rừng Sác, giao liên của ta hướng dẫn, đưa lực lượng này vượt lộ 15 thoát vòng vây của địch về khu Hắc Dịch, rừng Xuyên Mộc và sau đó về Chiến khu Đ an toàn.

Tháng 12/1956, trong cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp, mẹ Tạ Thị Lộc làm giao liên quan hệ giữa Đảng ủy trong nhà tù với Ban binh vận Xứ ủy và Tỉnh ủy Biên Hòa tạo đường dây liên lạc, chỉ đạo từ ngoài vào trong nhà tù Tân Hiệp, góp phần thúc đẩy chủ trương phá khám. Khi cuộc phá khám nổ ra theo kế hoạch ngày 2/12/1956, trên 462 cán bộ chiến sĩ cách mạng bị giam giữ ở nhà tù Tân Hiệp thoát ra, chia làm nhiều đoàn đi về nhiều hướng để phân tán sự truy bắt của địch. Nhiều chiến sĩ cách mạng bị giam là người địa phương đã cùng người dân làm giao liên dẫn đường đưa một số đoàn về địa phương, hoặc ra vùng căn cứ an toàn.

Từ năm 1958, giặc đánh phá cách mạng ráo riết hơn. Nhiều cơ sở cách mạng và đường dây giao liên bị phá vỡ. Nhưng nhờ biết dựa vào dân, được dân che chở nên rất nhiều cán bộ của ta đã thoát hiểm, tồn tại hoạt động trong lòng địch. Nhiều cán bộ giao liên thể hiện tinh thần, ý chí cách mạng, sự kiên định và lòng trung thành với lý tưởng cách mạng khi rơi vào tay kẻ thù: như anh Phụng, tổ trưởng giao liên bí mật, bị bọn phản bội chỉ điểm cho công an ngụy bắt, tra tấn dã man. Anh không khai báo nên bị đày ra Côn Đảo và hy sinh. Hay anh Út Đen (tức Trúng) bị địch chặn bắt ở cầu Ghềnh (xã Hiệp Hòa). Địch không khai thác được nên đày ra Côn Đảo và sau đó anh hy sinh.

Năm 1959, Ngô Đình Diệm ban hành luật 10/59 đặt Cộng sản ra ngoài vùng pháp luật, lê máy chém đi khắp nơi. Tình hình căng thẳng hơn bao giờ hết. Ngày 20/8/1959, tên Ba Chánh, Trưởng Ban giao liên công khai tỉnh Biên Hòa dẫn giặc về bắt Bí thư Tỉnh ủy, hàng loạt cán bộ, đảng viên cơ sở cốt cán ở Vĩnh Cửu, Tân Uyên, cùng nhiều người trong hệ thống giao liên công khai do hắn xây dựng. Chỉ tính từ tháng 5 đến tháng 9/1959, bọn phản bội dẫn địch về bắt trên 300 cán bộ, đảng viên, đoàn viên và cơ sở cốt cán ở Long Thành, Vĩnh Cửu, Tân Uyên và thị xã Biên Hòa, trong đó có hàng chục anh chị em trong đường dây giao liên công khai.

Tiếp đó, ngày 31/10/1959, tên Hà Tư (Bí thư Huyện ủy Long Thành) phản bội ra hàng giặc, hắn đã khai báo và dẫn địch về bắt rất nhiều cán bộ, đảng viên, quần chúng cốt cán đã từng công tác chung, từng bảo vệ nuôi dưỡng hắn. Ngày 2/11/1959, trời vừa chạng vạng tối, 2 giao liên Trần Văn Bi (tức Bảy Thuyền) và Lê Văn Bê đi lấy thư thì bị bắt. Đồng chí Trần Văn Bi chiến đấu anh dũng nhưng biết không sống được, tự bứt ruột, hy sinh vào sáng 3/11/1959. Đồng chí Lê Văn Bê bị địch bắt giam...

Tháng 9/1960, Xứ ủy Nam Bộ và Liên Tỉnh ủy miền Đông sáp nhập 2 tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên. Giao liên 2 tỉnh nhập lại thành Ban Giao liên tỉnh Thủ Biên, đóng căn cứ tại Cây Khế, rừng Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Tân (lúc đó thuộc huyện Châu Thành, nay thuộc thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Nhiệm vụ trước mắt của Ban Giao liên Thủ Biên là tổ chức đưa cán bộ, nhân viên, chiến sĩ của các cơ quan đơn vị của tỉnh Thủ Dầu Một từ căn cứ Sở Bác Vật qua Chiến khu Đ, căn cứ mới của tỉnh. Hàng đoàn cán bộ từ 5-7 người đến vài chục người lần lượt được chuyển sang địa điểm mới. Lúc này, lực lượng địch trên đường 16 còn mạnh, anh em đưa đường phải ngụy trang cẩn thận, không để lộ dấu chân, dấu dép nhiều người, ngày nghỉ, đêm hành quân. Tuy vất vả, song tất cả đều đến nơi an toàn. Một cuộc chuyển quân tương đối rầm rộ mà vẫn giữ được bí mật là một thắng lợi lớn của giao liên, được Tỉnh ủy khen ngợi.

Đầu năm 1961, Ban Giao liên đã dẫn đường cho tiểu đoàn 500 Quân khu phối hợp với lực lượng vũ trang đại phương quận Châu Thành tấn công bọt Bến Xoài. Trận đánh không thành công. Địch còn cố thủ trong một lô cốt để chờ chi viện. Đêm đó, anh em giao liên dẫn bộ đội băng qua đường 13 về xã An Điền (Nam Bến Cát). Đến nơi an toàn. Sáng hôm sau địch truy kích bị ta đón đánh gây nhiều thương vong.

Tháng 7/1961, Thường vụ Xứ ủy tách Thủ Biên thành các tỉnh: Biên Hòa, Phước Thành, Bình Dương. Ban Giao liên tỉnh Thủ Biên giải thể để hình thành Ban Giao liên tỉnh Biên Hòa; Ban Giao liên tỉnh Bình Dương; Ban Giao liên tỉnh Phước Thành.

Trước đó, năm 1959, do sự phản bội của một số đối tượng, cơ sở của Đảng bộ Biên Hòa, đặt biệt là ở Vĩnh Cửu, Long Thành và thị xã Biên Hòa gần như mất trắng. Năm 1960-1961, tuy thực lực cách mạng đã xây dựng lại được nhưng chỉ vỏn vẹn có 7-8 người.

Đến năm 1962, tình hình chung tương đối ổn định, công việc của ngành giao liên trôi chảy, bộ máy phát triển khá. Tuyến hành lang liên tỉnh của ta từ chiến khu Đ (T1) qua Xuân Lộc (Biên Hòa) về Bà Rịa, Vũng Tàu được nối thông. Phong trào cách mạng vùng nông thôn, vùng đồn điền cao su được phát triển khá, tổ chức cơ sở được xây dựng lại ở nhiều nơi.

Đến cuối năm 1962, Ban Giao liên tỉnh Biên Hòa đóng tại Suối Cả huyện Long Thành. Với số lượng nhân viên ngày càng tăng thêm, Ban hoàn chỉnh văn phòng ban và ba trạm tỉnh.

Tháng 3/1963, Trung ương Cục miền Nam quyết định sáp nhập 2 tỉnh Biên Hòa và Bà Rịa thành tỉnh Bà Biên. Song tỉnh Bà Biên không tồn tại lâu, do việc sáp nhập tỉnh không tính toán kỹ nên gây trở ngại cho chỉ đạo phong trào ở Biên Hòa. Khu ủy quyết định giải thể tỉnh Bà Biên vào tháng 12/1963.

Thời kỳ này, Ban Giao liên đổi tên thành Ban Giao bưu vận, với nhiệm vụ nặng nề hơn. Trước chỉ đưa rước khách, vận chuyển công văn, sách báo, thì lúc này đảm trách thêm nhiệm vụ vận tải hàng chiến lược (chủ yếu là nhận hàng A chi viện theo đường biển từ Bến Tre lên Cần Giờ qua Rừng Sác, vượt lộ 15 qua Hắc Dịch về Chiến khu Đ). Giao bưu Biên Hòa có nhiệm vụ chuyển vũ khí từ Hắc Dịch về giao cho trạm Khu ở Bắc sông Đồng Nai (chiến khu Đ) để chuyển về Trung ương Cục (R), đồng thời tiếp nhận hàng từ Khu về cung cấp cho Biên Hòa, Bà Rịa. Anh em gọi đó là hàng “Ông Cụ”, có nhiều loại, rất phong phú, từ vũ khí đến thuốc men, lương thực... từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam (B2), theo đường 559.

Ban Giao bưu vận của tỉnh vận động thêm tân binh, tăng cường cho các trạm, mua thêm xe đạp cải tiến thành xe thồ. Mỗi chuyến đi tải hàng từ 3 đến 5 xe, mỗi xe thồ được từ 120-150 kg hàng, do 1 hoặc 2 người phụ trách một xe. Những năm 1963-1964, địch chưa phát hiện nên anh em đi lại tương đối dễ dàng, dùng xe thồ từ Hắc Dịch đến Nam quốc lộ 1, từ đó chuyển sang tải bằng vai. Nhân viên giao bưu có cả nam lẫn nữ. Công việc nặng nhọc, cực khổ và nguy hiểm hơn, song mọi người đều vui vẻ, phấn khởi vì tiếp nhận được hàng càng nhiều càng tăng cường sức mạnh chiến đấu cho lực lượng kháng chiến, góp phần cho bộ đội đánh lớn, địch thua to.

Trước tình hình địch tăng cường đánh phá, hàng chiến lược vận tải về trên không kịp phải có chỗ bí mật để cất giấu tạm thời, do đó cán bộ, chiến sĩ của ngành giao bưu có thêm nhiệm vụ đào địa đạo.

Tháng 9/1965, Trung ương Cục quyết định nâng thị xã Biên Hòa lên thành đơn vị tương đương cấp tỉnh, lấy mật hiệu là U1. Thường vụ Tỉnh ủy U1 ủy quyết định thành lập Ban Giao bưu vận U1 có trách nhiệm tổ chức các trạm đầu mối để nối thông tin liên lạc giữa Tỉnh ủy với Khu ủy, với Vĩnh Cửu và các cơ sở trong nội thành Biên Hòa.

Từ 1965-1967, đường dây Hưng Lộc vào thị xã Biên Hòa hầu hết dùng lực lượng chị em phụ nữ có giấy tờ và thế làm ăn hợp pháp để che mắt địch. Nhờ cơ sở quần chúng ở Hưng Lộc rất tốt và cán bộ giao liên công khai của ta hoạt động khéo che giấu nên đường dây này đã phục vụ rất đắc lực cho Tỉnh ủy trước và sau Mậu Thân.

Để xây dựng lực lượng nội thành, Tỉnh ủy tiến hành tổ chức 4 cánh công tác thọc sâu vào nội thành và các vùng ven thị xã Biên Hòa với mật danh CZ1, CZ2, CZ3 và CZ4. Mỗi cánh có một cấp ủy viên phụ trách, có cán bộ chính trị, vũ trang, đoàn thể.

Bằng đường dây giao liên công khai, từ cơ sở bàn đạp Hưng Lộc, giao liên Tỉnh ủy U1 đưa nhiều đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy và cán bộ vào hoạt động trong thị xã .

Nhờ tổ chức và bố trí các cánh đột nhập vào vùng ven và nội ô hoạt động đến cuối năm 1965 đầu năm 1966, các chi bộ Đảng ở các xã ven và các cơ sở ở khu phố nội ô đều được củng cố.

Chính từ bàn đạp Hưng Lộc, đường dây giao liên công khai của ta đưa các đồng chí Phạm Văn Hùng (Chín Hùng), Nguyễn Thanh Sơn (Ba Sơn)... về Bình Đa thành lập chi bộ Đảng năm 1967; xây dựng được nhiều cơ sở mật và hầm bí mật ở các ấp Lân Thành, Vĩnh Thị, xóm Gò Me (phường Thống Nhất), ở Hiệp Hòa, Bửu Hòa, Bình Đa, tạo điều kiện cho nhiều chiến sĩ biệt động, cán bộ bám trụ xây dựng thực lực và lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống bắt lính, đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, chuẩn bị các kế hoạch tấn công địch.

Ngoài ra, ở khu vực Khu kỹ nghệ Biên Hòa, Tỉnh ủy U1 còn đưa đồng chí Nguyễn Thị Thu Hồng (vợ đồng chí Bảy Huệ) giao liên công khai của ta vào sống hợp pháp, phối hợp với đồng chí Sáu Bình (Nguyễn Hòa Bình) tập hợp và phát triển cơ sở trong các nhà máy, xí nghiệp.

Năm 1966-1967, quân và dân Biên Hòa kết hợp chặt đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, kết hợp giữa đấu tranh và xây dựng lực lượng, Tỉnh ủy U1 tạo được nhiều lõm chính trị bên trong, tổ chức được các bàn đạp tiến công vào thị xã, gây cho Mỹ nhiều tổn thất lớn như: pháo kích vào sân bay Biên Hòa đêm 28/2/1966, các trận đánh vào Tổng kho Long Bình đêm 22/6/1966 phá hủy hàng vạn tấn bom đạn của Mỹ...

Tại địa bàn Long Khánh, năm 1964 Ban Giao bưu tỉnh Long Khánh chỉ có hơn 10 người, nhiệm vụ là nối thông liên lạc về Khu ủy miền Đông Nam Bộ và các huyện của tỉnh theo mật danh H1, H2, H3 và H4. Nổi bật trong giai đoạn này là anh Điểu Quẹo là người dân tộc Chơ-ro. Năm 1960, anh vào ngành giao liên và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, không sợ khó khăn, gian khổ và ác liệt, 3 năm liền là chiến sĩ thi đua cấp tỉnh. Tháng 2/1969, trong một trận chống càn bảo vệ đường dây, anh và các đồng đội diệt được 12 tên Mỹ, làm bị thương nhiều tên khác, cả tổ đều được Tỉnh đội trưởng ký quyết định công nhận là dũng sĩ diệt Mỹ. Năm 1969, anh hy sinh.

Đến tháng 10/1966, 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa và Long Khánh nhập lại, lấy tên là tỉnh Bà Biên. Giao thông liên lạc đường bộ từ Bà Biên xuống các huyện, từ huyện xuống các xã gặp khó khăn, nhưng bộ máy giao liên, cán bộ chiến sĩ giao liên vẫn bám đường, cắt rừng luồn lách đi thư, giúp cấp ủy chỉ đạo kịp thời, đưa đón cán bộ an toàn.

Khi Mỹ triển khai chiến tranh đặc biệt, chủ trương của ta là lách tránh địch là chính để bảo vệ và giữ hành lang. Khi địch chuyển sang thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ, khẩu hiệu và hành động của người chiến sĩ giao bưu là “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, xác định “hành lang là chiến trường, trạm là trận địa, hành trình là chiến công”. Khẩu hiệu đó thể hiện được tư tưởng tiến công và quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ giao bưu trong công tác đảm bảo đường dây.

Tháng 3/1966, lữ đoàn dù 199 Mỹ có phi pháo và 40 xe tăng yểm trợ bao vây càn quét khu căn cứ Lòng chảo huyện Nhơn Trạch, bộ đội địa phương huyện C240 và lực lượng du kích địa phương, đội bảo vệ của văn phòng Huyện ủy cùng giao liên huyện Nhơn Trạch bám trụ chiến đấu liên tục 7 ngày đêm, bắn rơi 4 máy bay trực thăng, bắn cháy 4 xe tăng và diệt 69 tên Mỹ, buộc chúng phải rút lui.

Cuối năm 1967, Trung ương Cục miền Nam có quyết định bố trí lại các chiến trường, giải thể Khu ủy miền Đông, thành lập 5 phân khu, tạo thành 5 mũi nhọn chuẩn bị tấn công vào Sài Gòn, trung tâm đầu não của Mỹ và chế độ Sài Gòn.

Tại địa bàn U1, trong thời điểm 1965-1966, song song với nhiệm vụ luân chuyển thư từ, báo chí, Ban Giao bưu U1 còn được Tỉnh ủy giao thêm nhiệm vụ tổ chức vận chuyển vũ khí, hàng chiến lược. Ban xuống Tân Định (Vĩnh Cửu) mua 2 đôi bò và 2 chiếc xe thùng để vận chuyển hàng chiến lược từ Bà Rịa lên (tiếp nhận từ Trảng Bom đưa về bờ sông Đồng Nai). Công việc rất nặng nề và nguy hiểm. Nhưng từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, Ban Giao bưu U1 hoàn thành nhiệm vụ một cách toàn vẹn và an toàn.

Đối với đường dây giao liên công khai liên lạc trong nội thành Biên Hòa, từ năm 1965 đã được củng cố và xây dựng khá vững chắc. Mỗi cánh bám trụ trong thị xã Biên Hòa trong thời kỳ này đều có giao liên công khai. Mỗi đơn vị chiến đấu, mỗi chi bộ mật nội thành đều có giao liên riêng để xâu về đầu mối. Nhờ cách tổ chức này, Tỉnh ủy luôn nắm được tình hình trong nội thành, công tác chỉ đạo được nhanh chóng hơn, sâu sát hơn.

Các giao liên công khai đều được huấn luyện cách nghi trang thư từ bằng nhiều cách như: giấu công văn trong đầu tóc, trong lai áo, nghi trang trong hộp sữa, hộp bánh, trái bí, trái mít... để qua mắt địch. Mỗi giao liên công khai đều có sáng kiến riêng rất độc đáo, kể cả khi đưa cán bộ vào thành hoặc dẫn cán bộ từ nội thành ra căn cứ đều có chuẩn bị sẵn lý lẽ, ám hiệu để khi đi đường đảm bảo được an toàn.

Khi cuộc tổng tiến công Mậu Thân bùng nổ vào ngày 31/1/1968, lực lượng giao bưu vận Biên Hòa U1 góp phần rất tích cực vào việc phục vụ cho Bộ chỉ huy Tiền phương, cho các cánh đột nhập vào Biên Hòa, vào thành phố Sài Gòn - Gia Định để nắm cơ sở, truyền đạt nhiệm vụ và bố trí lực lượng xung kích dẫn đường cho bộ đội chủ lực khi đánh vào thành phố, dẫn đường rút ra khi được lệnh.

Ở Biên Hòa U1, nhờ thực hiện việc bám trụ xây dựng cơ sở nội thành và xây dựng hệ thống giao liên công khai tốt trong những năm 1966-1967, nên đến đầu năm 1968 bằng đường giao liên công khai đã chuyển thành công vào nội thành 4 đợt hàng gồm vũ khí và truyền đơn, khẩu hiệu vào phường An Bình, xã Hiệp Hòa; đưa các đồng chí lãnh đạo Thị ủy và nhiều chiến sĩ biệt động vào bám trụ ở ấp Lân Thành, Gò Me và Núi Đất; đưa cán bộ, điện báo viên và máy vô tuyến điện vào cất giấu, trụ tại nhà anh Hai Tiến để phục vụ chiến dịch...

Khi cuộc tiến công nổ ra, giao liên công khai phát huy tác dụng tốt trong việc dẫn đường cho lực lượng vũ trang tấn công địch và rút lui an toàn khi có lệnh. Đặc biệt em Lê Minh Tâm (15 tuổi, con má Bảy vết) dũng cảm mưu trí dẫn đường cho 20 chiến sĩ biệt động đang trụ tại Trường trang trí mỹ thuật Đồng Nai vượt vòng vây của địch, rút về xóm Cây Chàm (phường Hòa Bình) để vượt sông Đồng Nai về Hóa An an toàn.

Tại mặt trận Phân khu 4, Ban Giao bưu của Phân khu 4 sau khi được thành lập, công việc chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân rất khẩn trương. Cả bộ máy giao bưu được huy động để liên tục đưa người và hàng ra tuyến trước, từ Nhơn Trạch và xã Tam An (Long Thành) qua Thủ Đức.

Chiều 29/1/1968, Thường vụ Phân khu ủy tổ chức đưa một số cán bộ lãnh đạo của Phân khu vào nội thành Sài Gòn bằng đường giao liên công khai, để chỉ đạo lực lượng nội thành, phối hợp khi bên ngoài đánh vào thành phố.

Đúng 30/1/1968, giao liên của Phân khu với tất cả phương tiện ghe máy, xuồng chèo tập trung chuyển quân qua xã Tam An, ấp Truông Tre tiến vào các mục tiêu được phân công. Đúng giờ G đêm giao thừa Tết Mậu Thân (31/1/1968), quân ta đồng loạt tổ chức tấn công. Trong những ngày đầu tấn công địch, những chiếc xe gắn máy đuôi tôm của giao bưu phân khu 4 hoạt động liên tục cả ngày lẫn đêm trên sông Đồng Nai, liên tục đưa lực lượng bộ đội và dân công, tải lương thực, vũ khí đạn dược phục vụ tuyến trước, đồng thời chở thương binh, cán bộ đi công tác về tuyến sau. Qua khoảng 10 ngày bị động đối phó, địch mở những cuộc phản kích cực kỳ ác liệt ở cả 3 vùng chiến lược. Trên đường sông, số ghe máy ít ỏi của giao bưu lần lượt bị đánh chìm không sót một chiếc; ghe chèo tay đi âm thầm trong đêm cũng không qua được canô, xuồng máy có vũ trang và máy bay trực thăng của địch. Biện pháp cuối cùng để qua sông là phải bằng sức người lội qua. Thời điểm đó, mỗi lần qua sông, qua lộ, ai nấy đều thấy rõ cái chết gần kề, nhưng anh chị em giao bưu xác định giao bưu là mạch máu của kháng chiến, luôn dũng cảm hoàn thành nhiệm vụ hết ngày này sang ngày khác.

Ở khu vực Long Thành, Nhơn Trạch sau đợt 1 cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, địch phản kích rất dữ dội, nhưng các chiến sĩ giao liên của Phân khu và huyện kiên cường dũng cảm vượt bom pháo địch, bảo đảm công tác đi thư và vận chuyển vũ khí về vùng ven đô (Thủ Đức) để phục vụ cho bộ đội ta bám trụ tấn công địch. Đầu tháng 3/1968, lữ đoàn dù 199 Mỹ cho nhiều tốp trực thăng đổ quân xuống khu vực vàm Bà Chèo (Đồng Môn) bao vây tấn công vào một tổ giao liên của ta đang trên đường làm nhiệm vụ đưa xuồng vũ khí xuống Thủ Đức. Với ý chí quyết tâm diệt địch và bảo vệ chuyến hàng, giao liên mở đường cho đồng đội rút khỏi vòng vây.

Ở thị xã Biên Hòa, ngày 21/4/1969, Tô Hoàng Thắng, Đội phó Đội biệt động đầu hàng địch, dẫn địch về đánh Đội biệt động đang bám trụ ở ấp Bình Quang, xã Hiệp Hòa, bắt một số quần chúng cơ sở tra tấn dã man, nhiều cán bộ chiến sĩ ta hy sinh. Sau vụ này, đường hành lang giao liên công khai của ta bị tê liệt, một số chị em bị lộ phải chuyển vùng, một số phải tạm nằm im nghe động tĩnh.

Trước tình hình đó, đến giữa năm 1970, Ban giao bưu U1 xây dựng lại được 3 trạm bàn đạp, tổ chức và móc nối lại được một số giao liên công khai ra vô nội thành.

Từ năm 1972 đến đầu năm 1975, Ban Giao liên thị ủy Biên Hòa, một mặt không ngừng củng cố đường dây giao liên căn cứ, giữ vững liên lạc về tỉnh, về Khu và xuống các huyện; một mặt tăng cường củng cố tổ chức hệ thống giao liên công khai từ các bàn đạp đi vào thị xã, phục vụ cho các đồng chí cấp ủy đang bám trụ hoạt động trong nội thành. Chỉ tính riêng trong 3 năm (1971¬1973), Ban Giao bưu U1 xây dựng được 7 trạm bàn đạp, với trên 20 giao liên công khai, bộ máy của Ban tại căn cứ Bàu Hàm được tăng cường và củng cố với 10 giao liên.

Từ năm 1970-1975, hệ thống giao liên công khai của Biên Hòa tuy có một số bị bắt hoặc hy sinh, nhưng tất cả anh chị em đều giữ vững khí tiết, không có ai khai báo và làm lộ đường dây.

Một đặc điểm đáng lưu ý trong hệ thống giao liên công khai của thị xã Biên Hòa thời kỳ này là ngoài hệ thống giao liên công khai do ngành giao bưu tổ chức, cấp ủy còn có giao liên công khai đưa rước Thường trực cấp ủy vô ra nội thành/ Đường dây giao liên công khai do các ban ngành trực thuộc cấp ủy tổ chức khi vào nội ô bám trụ hoạt động đều có giao liên riêng. Tất cả đan xen, hỗ trợ cho nhau như những mạch máu tuần hoàn trong cơ thể, giúp cấp ủy thường xuyên nắm được tình hình, chỉ đạo phong trào, xây dựng thực lực và tổ chức đánh địch khi có thời cơ.

Cũng có những đường dây do cấp ủy trực tiếp tổ chức và giao lại cho ngành giao bưu quản lý sử dụng hoạt động từ 1967 đã tồn tại đến ngày giải phóng. Cụ thể, từ năm 1967, cấp ủy trực tiếp giao nhiệm vụ vận động quần chúng, xây dựng lực lượng cách mạng tại chỗ, vừa tổ chức một trạm giao liên công khai ở chợ Biên Hòa để tiếp nhận thư từ, báo chí, truyền đơn của Thị ủy từ bàn đạp Bàu Hàm về thị xã và ngược lại. Những chị em nằm trong đường dây này hầu hết là đảng viên trung kiên, quần chúng cốt cán đã kinh qua nhiều thử thách nên rất đáng tin cậy, trong đó nổi bật là đường dây Phạm Văn Lương đặt ở chợ trái cây Biên Hòa. Tuy xuất thân lao động nghèo, quanh năm làm ăn vất vả, tự kiếm sống, nhưng khi được giao nhiệm vụ các anh chị luôn thể hiện tinh thần dũng cảm, mưu trí qua mắt địch, nhiều lần đưa truyền đơn, súng đạn, thuốc nổ, kíp nổ từ căn cứ bàn đạp vào nội thành, phục vụ cho lực lượng biệt động của ta bám trụ ở Hiệp Hòa và khu vực khác trong thành phố.

Trong thực hiện nhiệm vụ, cũng có những đồng chí không may mắn như đồng chí Nguyễn Thị Tuyết, nhân viên giao liên công khai của Thành ủy bị địch chặn bắt ở Tân Phong ngày 31/3/1975. Chúng đánh đập tra tấn hết sức dã man, chị vẫn không khai báo một lời. Sau đó, địch đưa chị về Trảng Bom lén lút thủ tiêu.

Tháng 5/1971, Trung ương Cục chủ trương giải thể Ban Cán sự T7, giải thể phân khu 4, huyện Long Thành, Nhơn Trạch của Biên Hòa nhập với Bà Rịa thành lập phân khu Bà Rịa. Biên Hòa, U1 nhập với phân khu 5 thành phân khu Thủ Biên. Lúc này có Ban Giao bưu phân khu Bà Rịa và Ban Giao bưu phân khu Thủ Biên.

Năm 1972, giao bưu phân khu Bà Rịa, ngoài nhiệm vụ chuyên môn, còn phục kích diệt được một tiểu đội lính Sào Gòn đi tuần tiễu, thu toàn bộ vũ khí trên đường 20 gần cây số 96. Lần khác, nhờ đồng bào thông báo tin chính xác, giao bưu bắt được một tên công an, đủ giấy tờ, khai thác được những tài liệu quan trọng.

Tháng 10/1972, Trung ương Cục miền Nam thành lập lại Khu ủy miền Đông, giải thể phân khu Bà Rịa, lập lại tỉnh Bà Rịa-Long Khánh, nhập Biên Hòa nông thôn với U1 thành tỉnh Biên Hòa. Ban Giao bưu tỉnh Biên Hòa cũng tổ chức lại các trạm.

Từ năm 1969-1972, trạm giao bưu sông Là Ngà (Định Quán) và trạm giao bưu B3 (trạm cuối của tỉnh Bà Rịa-Long Khánh đóng ở bờ Bắc sông Đồng Nai để móc với trạm 27 của T1) vẫn ngày đêm túc trực đưa hàng ngàn dân công và bộ đội qua sông ra mặt trận và chuyển tải thương binh về tuyến sau. Ngoài ra, trạm còn có nhiệm vụ giao nhận khách, thư từ với trạm 27, và móc với trạm B4 bên kia quốc lộ 20, một tuyến đường đầy máu và nước mắt. Dù thường xuyên thiếu đói, bệnh tật, thiếu thuốc men, ăn củ rừng, rau rừng để đi liên lạc, nhưng các chiến sĩ giao liên của ta vẫn giữ vững tay súng vai bồng quyết tâm “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, thà hy sinh chớ nhất định không để mất liên lạc. Trước năm 1966, trạm có 2 tiểu đội cán bộ chiến sĩ giao liên nhưng đến cuối năm 1969 chỉ còn lại 5 anh chị em. Nhiều anh chị em đã lần lượt ra đi không trở về.

Từ tháng 3/1975, tại mặt trận Định Quán, lực lượng giao bưu của Tân Phú ngày đêm đưa đường cho bộ đội, “chạy” thư phục vụ cho Tỉnh ủy và Bộ Chỉ huy tiền phương, nối liên lạc về Khu ủy. Khi chiến dịch bùng nổ, đến lúc bộ đội ta hoàn toàn giải phóng Định Quán, Tân Phú ngày 20/3/1975, lực lượng giao liên của tỉnh và huyện tuy ít, nhưng tất cả đều phấn khởi, dũng cảm lao vào công tác phục vụ chiến đấu. Mặc cho bom pháo địch không ngớt đánh phá hành lang, cố giải tỏa bao vây và tấn công của ta, chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt, nhưng giao liên và đài thông tin vô tuyến điện của Tân Phú giữ vững mạch máu thông tin liên lạc, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Cuối tháng 4/1975, trên chiến trường Long Thành và Nhơn Trạch, lực lượng của Ban Giao liên huyện phục vụ rất đắc lực cho tiền tuyến. Ngày 26/4/1975 lực lượng giao liên của huyện Nhơn Trạch dẫn đường, đưa quân đoàn 2 và C240 của tỉnh vượt đồn Cầu Mới, đánh chiếm thị trấn Phước Thiền làm bàn đạp đưa tiểu đoàn pháo 130 ly của ta xuống Long Tân, Phú Hội.

Cùng đêm 26/4/1975, quân ta nổ pháo vào các cứ điểm của địch ở Biên Hòa. Sáng 27/4/1975, ta làm chủ thị trấn Long Thành, bộ phận giao bưu tỉnh Biên Hòa đóng ở Nhơn Trạch, Long Thành vào tiếp quản trụ sở Bưu điện địch tại Long Thành trong ngày 27/4/1975.

Đúng 11 giờ 30 ngày 30/4/1975, đoàn cán bộ của khu miền Đông và thị xã vào tiếp quản toàn bộ thị xã Biên Hòa. Riêng lực lượng thông tin, giao bưu khu và thị xã tiếp quản nguyên vẹn Bưu điện tỉnh Biên Hòa.

Hơn 20 năm chiến đấu cực kỳ gian khổ, ngành Giao bưu Biên Hòa, Bà Rịa - Long Khánh, Tân Phú vượt qua những hy sinh mất mát, vừa chiến đấu mở đường, nối thông các tuyến hành lang, các tuyến giao thông, đảm bảo sự chỉ đạo của cấp ủy đối với các chiến trường và phong trào cơ sở; vận chuyển một khối lượng lớn hàng chiến lược của Trung ương chi viện cho chiến trường; đồng thời góp phần to lớn trong việc động viên, nâng cao tinh thần chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ các cấp thông qua những lá thư gia đình. Tính từ 1960-1975, chỉ riêng Giao bưu Biên Hòa có 31 đồng chí hy sinh (chưa tính huyện, xã), trong đó có một cán bộ cấp đại đội, 10 cán bộ cấp trung đội. Số hy sinh chiếm tỷ lệ gần phân nửa quân số của Ban.

Lực lượng giao bưu thông tin liên lạc Đồng Nai được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân theo Quyết định số: 160/KT-CTN ngày 28/4/2000

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Lực lượng giao bưu thông tin liên lạc tỉnh Đồng Nai | Câu chuyện thời hoa lửa