Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn: Cuộc đời huyền thoại của vị tướng văn võ toàn tài
Lê Văn Quản
I. Thân thế và tuổi trẻ nổi loạn
Tướng Nguyễn Sơn (1908–1956), tên thật là Vũ Nguyên Bác, tên húy là Hạo Nhiên, sinh ngày 1-10-1908 tại làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội). Ông xuất thân trong một gia đình tư sản khá giả tại phố Yên Ninh, nay thuộc phường Quán Thánh, Hà Nội. Ngay từ thuở nhỏ, Vũ Nguyên Bác đã sớm được nuôi ăn học tại các trường tiểu học và trung học danh tiếng ở Hà Nội như trường Đỗ Hữu Vị, học tiếng Pháp tại trường dòng, và thi đỗ vào Trường Sư phạm nội trú Hà Nội khi mới 14 tuổi.
Tuy lớn lên trong nhung lụa, Vũ Nguyên Bác lại sớm bộc lộ một cá tính bộc trực, mạnh mẽ, giàu tinh thần dân tộc và không chịu khuất phục trước sự áp bức của thực dân Pháp. Ông thường đứng ra tổ chức những cuộc xung đột giữa học sinh người Việt và con em người Pháp tại trường học. Dù gia đình đã sớm sắp xếp hôn nhân êm ấm, nhưng cuộc sống gia đình bình thường không thể giữ chân người trai trẻ mang hoài bão lớn. Sau khi được giác ngộ bởi những người cách mạng do Nguyễn Ái Quốc cử về Việt Nam, ông quyết định từ biệt vợ con, dấn thân vào con đường cách mạng hiểm nguy.
II. Hành trình cách mạng trên đất Trung Quốc và cuộc Vạn lý Trường chinh
1. Từ "Lý Anh Tự" đến trường Quân sự Hoàng Phố
Năm 1925, bước ngoặt lớn đến khi Vũ Nguyên Bác được đồng chí Nguyễn Công Thu đưa sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham gia lớp huấn luyện chính trị khóa 2 do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Tại đây, ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, trở thành thành viên của "gia đình cách mạng họ Lý" và được đặt tên mới là Lý Anh Tự.
Với năng lực vượt trội, Lý Anh Tự được gửi vào học quân sự tại Trường Quân sự Hoàng Phố (khóa IV). Sau khi tốt nghiệp xuất sắc, ông được giữ lại làm công tác giảng dạy và huấn luyện tại trường. Tháng 8-1927, khi Tưởng Giới Thạch tiến hành chính biến tàn sát những người cộng sản, Lý Anh Tự đã kiên định rời bỏ hàng ngũ Quốc dân Đảng để bí mật gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc khi mới 19 tuổi.
Tháng 12-1927, ông dũng cảm tham gia cuộc khởi nghĩa vũ trang công - nông - binh Quảng Châu. Sau sự kiện oanh liệt nhưng thất bại này, ông quyết định đổi tên thành Hồng Thủy với ý nghĩa là "dòng nước đỏ cách mạng chỉ tiến về biển cả". Sau đó, ông cùng các đồng chí rút về Hồng Kông rồi sang Thái Lan để tuyên truyền, vận động cách mạng trong kiều bào trước khi trở lại Trung Quốc vào năm 1928 (hoặc 1929) để chính thức gia nhập Hồng quân Công Nông.
2. Bản lĩnh thép trong lửa đỏ Vạn lý Trường chinh
Trong hàng ngũ Hồng quân Trung Quốc, Hồng Thủy thăng tiến rất nhanh nhờ năng lực chỉ huy và tuyên huấn xuất sắc. Ở tuổi 24, ông đã đảm nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 34, Quân đoàn 12 Hồng quân. Tháng 1-1934, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa, ông được bầu làm Ủy viên Trung ương.
Tháng 10-1934, Hồng Thủy tham gia cuộc Vạn lý Trường chinh đầy gian khổ. Ông là người Việt Nam duy nhất đi trọn hành trình sinh tử kéo dài hàng vạn km này. Trên con đường gian truân đó, Hồng Thủy đã 3 lần vượt qua núi tuyết lạnh giá và thảo nguyên lầy lội hoang vu. Khi đơn vị bị đánh tan tác bởi lực lượng vượt trội của kẻ thù, ông có lúc phải đi một mình, lạc vào vùng dân tộc thiểu số, phải làm thuê chăn dê để sống sót tìm đường về với Diên An. Khi đặt chân tới Diên An đầu năm 1936, ông gầy guộc như một bộ xương khô, rách rưới đến mức không ai nhận ra.
Trớ trêu thay, cũng chính trong giai đoạn này, ông bị vu cáo là "gián điệp quốc tế", "phản động", và bị khai trừ khỏi Đảng tới 3 lần (giai đoạn 1933–1938), thậm chí suýt bị xử tử. Nhờ sự bảo vệ và thấu hiểu của các nhà lãnh đạo lỗi lạc như Chu Đức và Lưu Bá Thừa, ông mới thoát chết và được khôi phục đảng tịch. Sau Trường chinh, ông tiếp tục học tập tại Diên An dưới sự chỉ dạy trực tiếp của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Năm 1945, ông vinh dự là một trong 15 đại biểu dự thính tại Đại hội lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Dương Gia Lĩnh.
III. Trở về Tổ quốc: Chỉ huy kháng chiến và triết lý giáo dục - văn hóa
1. Trực tiếp chỉ huy mặt trận Nam Trung Bộ và Liên khu 4
Năm 1945, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồng Thủy trở về Việt Nam theo nguyện vọng cá nhân và sự đồng ý của lãnh đạo hai Đảng. Ông lấy tên mới là Nguyễn Sơn để hoạt động cách mạng.
Tháng 7-1946, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Trung Bộ. Tại chiến trường Nha Trang – Khánh Hòa và Nam Trung Bộ đầy căng thẳng, ông đã cùng tập thể tổ chức lực lượng chiến đấu kiên cường ngăn chặn bước tiến quân Pháp.
Giữa năm 1947, Nguyễn Sơn được điều ra làm Khu trưởng (Tư lệnh kiêm Chính ủy) Liên khu 4. Tại đây, ông củng cố hậu phương, xây dựng lực lượng chủ lực và đề xuất mô hình huấn luyện quân sự gắn liền thực tiễn mang tên “Đại đội tập” – một sáng kiến được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá rất cao. Ông cũng trực tiếp biên soạn tài liệu giảng dạy quân sự có giá trị nền tảng như “Dân quân – một lực lượng chiến lược”.
2. Vị tướng có nhân cách văn hóa lớn
Điều làm nên nét độc đáo có một không hai ở Nguyễn Sơn chính là tâm hồn nghệ sĩ và nhãn quan văn hóa sâu rộng. Ông có triết lý quản trị rất rõ ràng: “Một người cán bộ giỏi không chỉ cần lòng dũng cảm, mà bắt buộc phải có nhãn quan sâu rộng và nền tảng trí thức vững chắc”.
Ông đặc biệt say mê kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nguyễn Sơn từng chia sẻ rằng trên những chặng đường Vạn lý Trường chinh lạnh thấu xương, chính những câu Kiều ngân lên đã sưởi ấm tâm hồn và tiếp thêm nghị lực cho ông. Khi làm Khu trưởng Liên khu 4, ông từng say sưa giảng giải về Truyện Kiều suốt 5 tiếng đồng hồ liền (có tài liệu ghi suốt một ngày) cho giáo viên và học sinh trường Thiếu sinh quân.
Dưới sự che chở và lãnh đạo của ông, Liên khu 4 đã trở thành một trung tâm văn hóa kháng chiến rực rỡ, quy tụ hàng loạt văn nghệ sĩ lỗi lạc như Hữu Loan, Hoàng Trung Thông, Minh Huệ.... Nguyễn Sơn đã mở các Lớp văn hóa kháng chiến, ra lệnh cấp sinh hoạt phí cho lính văn nghệ gấp đôi lính thường vì thấu hiểu sự vất vả của họ.
Nhờ tầm nhìn đi trước thời đại, ông đã quyết liệt bảo vệ và khôi phục các bộ môn nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo khi chúng bị một số người coi là "tàn dư phong kiến" cần dẹp bỏ. Ông giao cho nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghi khôi phục các đội tuồng chèo; cấp kinh phí khôi phục điệu múa cổ truyền Xuân Phả (Thọ Xuân, Thanh Hóa); và mời nghệ sĩ Quản Liên đứng ra phục hồi đội kèn đồng – tiền thân của Đoàn quân nhạc quân đội ta ngày nay.
IV. "Lưỡng quốc Tướng quân" độc nhất vô nhị
1. Điển tích phong tướng năm 1948 và 12 chữ vàng của Bác Hồ
Ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong hàm cấp Tướng cho một số tướng lĩnh đầu tiên của quân đội ta, trong đó Nguyễn Sơn được phong quân hàm Thiếu tướng. Vì cá tính mạnh mẽ và có chút tự ái riêng, Nguyễn Sơn ban đầu chần chừ kéo dài thời gian, chưa chịu nhận phong hàm.
Biết rõ cá tính của Nguyễn Sơn, Bác Hồ đã điềm tĩnh tự tay viết một bức thiệp nhỏ gửi tặng ông với 12 chữ:
"Đảm dục đại, Tâm dục tế, Trí dục viên, Hành dục phương". (Gan cần lớn, Tâm cần tinh tế, Trí vẹn toàn, Hạnh phải thẳng ngay).
Cách ứng xử bao dung, đầy trân trọng và tinh tế của Bác Hồ (gửi gắm qua bác sĩ Phạm Ngọc Thạch) đã chạm đến trái tim yêu văn chương và trọng đại cục của Nguyễn Sơn. Ông hoàn toàn tâm phục khẩu phục thốt lên: "Ông cụ này khiếp thật!" và lập tức chỉ thị chuẩn bị lễ thụ phong quân hàm. 12 chữ vàng này đã theo ông suốt cuộc đời hào hoa, giúp ông tự sửa mình để hoàn thiện sự nghiệp binh nghiệp.
2. Trở lại Trung Quốc và lần phong tướng thứ hai
Năm 1950, Nguyễn Sơn trở lại Trung Quốc công tác theo thỏa thuận giữa hai Đảng. Ông giữ chức vụ Cục phó Cục Điều lệnh Tổng giám bộ huấn luyện Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Ngày 27-9-1955, trong đợt phong quân hàm chính quy đầu tiên của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Nguyễn Sơn (với tên gọi Hồng Thủy) vinh dự được phong quân hàm Thiếu tướng. Ông cũng là người nước ngoài duy nhất được phong tướng trong lịch sử quân đội Trung Quốc và được nhà nước Trung Quốc tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng Nhất, Huân chương Bát nhất, và Huân chương Độc lập.
Nguyễn Sơn chính thức trở thành "Lưỡng quốc Tướng quân" đầu tiên và duy nhất trong lịch sử quân sự thế giới khi được phong hàm Thiếu tướng ở cả hai quốc gia độc lập.
V. Những năm cuối đời và sự tri ân
Năm 1956, khi mắc bệnh hiểm nghèo (ung thư), Nguyễn Sơn có nguyện vọng trở về quê hương Việt Nam. Ngày ông rời Bắc Kinh, chính phủ Trung Quốc đã tổ chức một cuộc tiễn đưa vô cùng trang trọng với sự có mặt của các nguyên soái lỗi lạc như Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh và đông đảo tướng lĩnh, người dân. Đây là nghi thức tri ân đặc biệt hiếm hoi dành cho một chiến sĩ quốc tế.
Ngày 21-10-1956, không lâu sau khi trở về Hà Nội, Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 48, khi tài năng và sức cống hiến vẫn đang ở độ chín.
Để ghi nhận những công lao vĩ đại của ông cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Nhà nước Việt Nam đã truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh. Tên tuổi và cuộc đời của vị tướng huyền thoại Nguyễn Sơn mãi mãi là biểu tượng chói lọi của tinh thần hữu nghị quốc tế cao đẹp giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc.
Các nguồn truy xuất:
Một nét ứng xử rất đẹp: Bác Hồ và Tướng Nguyễn Sơn - Báo Nghệ An.
NHỮNG GIAI THOẠI VỀ TƯỚNG NGUYỄN SƠN - Lưỡng quốc tướng quân - Kênh YouTube Kiến thức & Giải trí.
Thiếu tướng Nguyễn Sơn với phong trào văn hóa văn nghệ - Báo Quân khu 4.
Tướng Nguyễn Sơn và cuộc Vạn lý trường chinh 7.200 ngày trên đất Trung Quốc - Thông tấn xã Việt Nam.
Tướng Nguyễn Sơn – Triết lý đào tạo cán bộ toàn diện.
“Lưỡng quốc tướng quân” Nguyễn Sơn – Vị tướng đa tài của Việt Nam và Trung Quốc.
“Lưỡng quốc tướng quân” Nguyễn Sơn – cuộc đời huyền thoại của vị tướng được cả Việt Nam và Trung Quốc ghi công - Danviet.vn.


