Khác

Lương Văn Tri – Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, vị Chỉ huy trưởng đầu tiên của Đội Cứu quốc quân

Lạng Sơn16/09/2026Đoàn xã Hưng Vũ (Xã Hưng Vũ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong thế hệ những người cộng sản tiền bối đầy quả cảm của mảnh đất xứ Lạng, bên cạnh người đồng chí thân thiết Hoàng Văn Thụ, lịch sử cách mạng luôn trân trọng ghi danh một người con ưu tú khác của núi rừng Đông Bắc. Ông là Lương Văn Tri – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, vị Chỉ huy trưởng đầu tiên của Đội Cứu quốc quân 1 (lực lượng vũ trang chính quy đầu tiên do Đảng thành lập). Bằng tài năng quân sự xuất sắc, sự mưu trí và lòng quả cảm vô song, ông đã hiến dâng trọn vẹn tuổi thanh xuân của mình để nhen nhóm những đốm lửa vũ trang đầu tiên, tạo tiền đề vững chắc cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành độc lập vĩ đại sau này.

Lương Văn Tri sinh năm 1910 trong một gia đình nông dân dân tộc Tày có truyền thống yêu nước tại bản Bản Phải, xã Mỹ Liệt (nay là xã Trấn Ninh), huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn. Thừa hưởng cốt cách kiên cường của người con núi rừng, ngay từ thủa nhỏ ông đã bộc lộ sự thông minh, chính trực và sớm nung nấu tư tưởng phản kháng khi tận mắt chứng kiến cảnh đồng bào bị thực dân Pháp bóc lột, giam cầm trong đói nghèo, tăm tối.

Năm 1928, khi phong trào yêu nước của thanh niên học sinh dấy lên mạnh mẽ, Lương Văn Tri cùng người bạn đồng hương Hoàng Văn Thụ đã đưa ra một quyết định táo bạo: thoát ly gia đình, bí mật vượt biên giới sang Quảng Châu (Trung Quốc) để tìm con đường cứu nước. Tại đây, bước ngoặt vĩ đại đã đến khi ông được tham gia vào tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Với tư chất thông minh và có tinh thần kỷ luật cao, Lương Văn Tri được tổ chức tin tưởng cử đi học tập tại Trường Quân sự Hoàng Phố – ngôi trường chính quy danh tiếng bấy giờ. Tại đây, ông đã miệt mài tiếp thu các kiến thức về chiến thuật, chiến lược và kỹ thuật quân sự hiện đại để chuẩn bị vũ khí lý luận cho cuộc chiến trường kỳ sắp tới.

Năm 1930, Lương Văn Tri chính thức đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhận nhiệm vụ từ vương phủ Trung ương, ông cùng Hoàng Văn Thụ lập tức quay trở lại vùng biên giới Việt - Trung hoạt động bí mật. Giữa muôn vàn nguy hiểm trước sự bủa vây của mật thám Pháp, ông đã lặn lội qua khắp các bản làng xa xôi từ Lạng Sơn đến Cao Bằng để tuyên truyền lý tưởng cách mạng, thành lập các tổ chức quần chúng trung kiên và trực tiếp huấn luyện quân sự cho các thanh niên yêu nước local.

Tháng 9 năm 1940, cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, làm rung chuyển ách cai trị của thực dân Pháp tại vùng Đông Bắc. Nhận thấy thời cơ và yêu cầu cấp bách phải xây dựng một lực lượng vũ trang chính quy để bảo vệ căn cứ, tháng 5 năm 1941, tại khu rừng Khuổi Nọi (Vũ Lễ, Bắc Sơn), Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Đội Cứu quốc quân 1. Với kiến thức quân sự uyên thâm và uy tín lừng lẫy, đồng chí Lương Văn Tri được Đảng tin tưởng giao trọng trách làm Chỉ huy trưởng.

Trên cương vị là người đứng đầu lực lượng vũ trang non trẻ, Lương Văn Tri đã thể hiện một tài năng quân sự thiên bẩm. Ông trực tiếp soạn thảo các tài liệu huấn luyện, tổ chức bài binh bố trận cho quân sĩ theo phương châm tác chiến du kích: "Bí mật, bất ngờ, cơ động nhanh". Dưới sự chỉ huy tài tình của ông, Đội Cứu quốc quân 1 từ vài chục chiến sĩ đã lớn mạnh thần tốc, liên tiếp bẻ gãy các cuộc vây quét quy mô lớn của quân Pháp, bảo vệ an toàn cho các cơ quan đầu não của Đảng tại căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai.

Sự lớn mạnh của Cứu quốc quân khiến thực dân Pháp điên cuồng lo sợ. Chúng tập trung một lực lượng quân đội khổng lồ, mở cuộc càn quét quy mô lớn và tàn bạo nhất vào căn cứ Bắc Sơn nhằm mục tiêu "nhổ tận gốc" lực lượng của ta. Để bảo toàn lực lượng và mở rộng địa bàn hoạt động theo chỉ thị của Trung ương, Chỉ huy trưởng Lương Văn Tri đã quyết định thực hiện một cuộc rút lui chiến lược đầy gian khổ, đưa một cánh quân di chuyển từ Bắc Sơn hướng về vùng Ngân Sơn (Bắc Kạn) và Na Rì.

Trên đường hành quân rút lui xuyên qua những cánh rừng sâu núi thẳm, quân ta vừa phải chống chọi với cái đói, cái rét, vừa phải liên tục chiến đấu chặn hậu chống lại sự truy đuổi ráo riết của kẻ thù. Tháng 8 năm 1941, tại địa bàn xã Đức Xuân (huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng), do có kẻ phản bội chỉ điểm, cánh quân của Lương Văn Tri đã bị một lực lượng lớn quân Pháp phục kích, bao vây chặt bốn phía.

Trong trận chiến không cân sức đẫm máu ấy, Chỉ huy trưởng Lương Văn Tri đã thể hiện khí phách hiên ngang của một vị tướng trận mạc. Ông bình tĩnh chỉ huy các chiến sĩ đánh trả quyết liệt, dũng cảm bắn xối xả vào đội hình địch để thu hút hỏa lực về phía mình, tạo đường máu cho các đồng chí chủ lực trốn thoát an toàn. Trong lúc chiến đấu anh dũng, ông bị trúng đạn và bị thương nặng, rơi vào tay giặc Pháp.

Biết ông là Chỉ huy trưởng của Cứu quốc quân, thực dân Pháp vô cùng đắc ý. Chúng lập tức đưa ông về giam giữ tại nhà tù Cao Bằng. Tại đây, kẻ thù đã trút xuống cơ thể ông những trận đòn tra tấn tàn bạo, đê hèn nhất hòng ép ông khai ra vị trí ẩn nấp của các chiến sĩ và căn cứ của vương triều cách mạng. Chúng gông cùm biệt giam, dùng roi điện, gậy gộc đánh đập ông đến nát thịt da. Thế nhưng, cơ thể đầy thương tích ấy chứa đựng một bản lĩnh bằng thép của người chiến sĩ học trường Hoàng Phố. Suốt những ngày nếm trải cực hình, Lương Văn Tri luôn giữ vững chí khí cách mạng, nhìn thẳng vào mắt kẻ thù, không hé răng khai nửa lời, kiên quyết bảo vệ an toàn tuyệt đối cho tổ chức đến hơi thở cuối cùng.

Do vết thương quá nặng từ những đòn tra tấn dã man của kẻ thù và không được cứu chữa, đồng chí Lương Văn Tri đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà tù Cao Bằng vào ngày 29 tháng 9 năm 1941, khi mới vừa tròn 31 tuổi – độ tuổi thanh xuân rực rỡ nhất với bao hoài bão lớn lao cho độc lập nước nhà.

Sự hy sinh oanh liệt của vị Chỉ huy trưởng Lương Văn Tri là một tổn thất vô cùng lớn lao cho Đảng và lực lượng vũ trang non trẻ thời bấy giờ. Tuy nhiên, tinh thần anh dũng, xả thân vì đồng chí và lòng trung thành tuyệt đối với tổ quốc của ông đã hòa vào dòng chảy lịch sử gấm vóc, trở thành ngọn đuốc rực cháy tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ Cứu quốc quân kiên cường chiến đấu, chuẩn bị đón bình minh Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tên của ông đã được trân trọng đặt cho nhiều đường phố, trường học lớn tại Lạng Sơn và khắp cả nước, mãi mãi là niềm tự hào ngời sáng của đồng bào các dân tộc vùng Đông Bắc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn