Lưu Văn Lang
Ong Lưu Văn Lang sinh ngày og tháng 6 năm 188o, tại làng Tân Phú Đông, Sa Đéc, trong một gia đình nghèo.
Thuở nhỏ, ông học chữ Nho, năm mười tuổi mới bát đầu học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Vòn thông minh, liên tục là học trò giỏi, tải năng ngày càng phát triển, Lưu Văn Lang được học bổng để theo học ở trường Chasseloup Laubat (Sải Gòn). Năm 17 tuổi, lại tiêp tục được học bồng sang Pháp học tại trường Quốc gia Bách nghệ Paris (l'Ecole Centrale de Paris).
Năm 1908, thi tôt nghiệp ra trường, đậu hạng ưu, xép thứ 8 trong số 250 thí sinh, Lưu Vin Lang là sinh viên Nam Kỳ đầu tiên đậu bằng Ingénieur des Arts et Manufactures (Ky su công) nghệ chuyên ngành cầu công - tương đương như kỳ sư xây dựng ngành cầu đường ngày nay).
Về nước. Chính phú Pháp bố nhiệm ông qua Vân Nam (Trung Quốc) thiêt kè, xây dựng đường xe lữa Vân Nam.
Năm 1909 đến 1940, ông làm việc cho Sở Công chánh Sài Gòn. Với tài năng và tính liêm khiết, ông nổi tiếng qua những lần đi kiểm tra cầu công. Nhiều câu chuyện, gần như huyền thoại, được người dân truyền tụng, nói lên bản lĩnh chuyên môn nghề nghiệp của "Bác vật Lang", hơn hẳn các kỹ sư, đồng nghiệp người Pháp.
Xuất thân từ học trò nghèo, hiếu học, khi thành đạt, ông có những hoạt động "khuyến học" tích cực: thành lập Hội Khai Trí Tiến Đức ở Hà Nội và Hội SAMIPIC ở Sài Gòn (Société pour l'amélionration morale intellectuelle et physique des indigènes de Cochinchine), một hội có mục đích nâng cao tinh thần, trí tuệ và thể lực cho sinh viên Đông Dương, ở Nam Kỳ. Hội giúp nhiều học bổng cho sinh viên nghèo, học giỏi, được đào tạo ở nước ngoài thành những nhà khoa học kỹ thuật cao câp... Năm 1943 - 1944, ông tích cực giúp phong trào Truyền bá Quốc ngữ chính thức hoạt động rầm rộ ở Sài Gòn và các tinh.
Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp, ông được mời ra Huế giữ chức Tổng trường. nhưng ông giữ khí tiết, tuyên bô: "Không làm đây tô cho ai nữa cả!".
Pháp tái chiêm Sài Gòn, ông vẫn bất hợp tác với giặc. Từ đó, nhà ông ở đường Chasseloup Laubat (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) là nơi hội họp, gặp gỡ của những trí thức tiên bộ, yêu nước.
Năm 1947, ông cùng bác sỉ Nguyễn Văn Hương, giáo sư Đặng Minh Trứ, vận động gần 300 trí thức ký tên vào bản kiến nghị đòi Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ Kháng chiên để châm dứt chiên tranh. Cả ba vị cùng lên gặp Cao uỳ Bollaert - đại diện thực dân Pháp và đã tranh cải kịch liệt với Bollaert. Sau đó, bác sì
Hướng và giáo sư Trứ quyết định ra chiên khu, còn kỹ sư Lưu Văn Lang ở lại Sài Gòn với thái độ rõ ràng đứng về phía nhân dân, mặt đôi mặt với quân xâm lược. Qua thề đứng của mình, ông ra sức tranh thủ một số nhân vật quan trọng từ Pháp sang nắm tình hình Việt Nam, trong đó có văn hào Georges Duhamel.
THU VIÊN TINH ĐONG THAP
DONG TRAP PROVINCIAL LIBRARY
bản kiến nghị thứ hai, với hàng ngàn chữ ký, đòi Chính phủ Pháp thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh để trao trả độc lập và tái lập hoà bình Việt Nam, làm cho thực dân Pháp và tay sai phải bối rôi. Ngày 09 tháng o1 năm 1950, tại Sài Gòn, nhân đám tang học trò Trần Văn Ơn, ông dẫn đầu đoàn biểu tình đông hàng trăm ngàn người, mặc dù năm ây ông đã 70 tuổi.
Năm 1954, tuy đã già, ông Lưu Văn Lang vẫn nhận chức Chủ tịch danh dự Phong trào Hoà bình. Tháng 11 năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm bắt ông giam giữ, không lâu sau, vì uy tín lớn lao của ông, họ buộc phải thả ông ra.
Ông ủng hộ cuộc kháng chiên chông Mỹ. cứu nước, ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, công khai phổ biên các văn kiện của Mặt trận ngay giữa Sài Gòn.
Ông Lưu Văn Lang mắt ngày o3 tháng 8 năm 196g, thọ 90 tuổi.
Tại thành phô Sa Đéc, tinh Đồng Tháp có trường Trung học cơ sở mang tên Lưu Văn Lang (bên cạnh trường Phổ thông Trung học Sa Đéc).



