Anh hùng Lực lượng vũ trang

Lưu Văn Lang

Ông Lưu Văn Lang sinh ngày 05 tháng 6 năm 1880, tại làng Tân Phú Đông, Sa Đéc, trong một gia đình nghèo.

Đồng Tháp19/03/2026BCH Đoàn Trường Cao Đẳng Y Tê Đồng Tháp (Trường Cao Đẳng Y Tê Đồng Tháp)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Lưu Văn Lang sinh ngày 05 tháng 6 năm 1880, tại làng Tân Phú Đông, Sa Đéc, trong một gia đình nghèo.

Thuở nhỏ, ông học chữ Nho, năm mười tuổi mới bắt đầu học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Vốn thông minh, liên tục là học trò giỏi, tài năng ngày càng phát triển, Lưu Văn Lang được học bổng để theo học ở trường Chasseloup Laubat (Sài Gòn). Năm 17 tuổi, lại tiếp tục được học bổng sang Pháp học tại trường Quốc gia Bách nghệ Paris (l’École Centrale de Paris).

Năm 1908, thi tốt nghiệp ra trường, đậu hạng ưu, xếp thứ 8 trong số 250 thí sinh, Lưu Văn Lang là sinh viên Nam Kỳ đầu tiên đậu bằng Ingénieur des Arts et Manufactures (Kỹ sư công nghệ chuyên ngành cầu cống - tương đương như kỹ sư xây dựng ngành cầu đường ngày nay).

Về nước, Chính phủ Pháp bổ nhiệm ông qua Vân Nam (Trung Quốc) thiết kế, xây dựng đường xe lửa Vân Nam.

Năm 1909 đến 1940, ông làm việc cho Sở Công chánh Sài Gòn. Với tài năng và tính liêm khiết, ông nổi tiếng qua những lần đi kiểm tra cầu cống. Nhiều câu chuyện, gần như huyền thoại, được người dân truyền tụng, nói lên bản lĩnh chuyên môn nghề nghiệp của “Bác vật Lang”, hơn hẳn các kỹ sư, đồng nghiệp người Pháp.

Xuất thân từ học trò nghèo, hiếu học, khi thành đạt, ông có những hoạt động “khuyến học”: tích cực thành lập Hội Khai Trí Tiến Đức ở Hà Nội và Hội SAMIPIC ở Sài Gòn (Société pour l’amélioration morale intellectuelle et physique des indigènes de Cochinchine), một hội có mục đích nâng cao tinh thần, trí tuệ và thể lực cho sinh viên Đông Dương, ở Nam Kỳ. Hội giúp nhiều học bổng cho sinh viên nghèo, học giỏi, được đào tạo ở nước ngoài thành những nhà khoa học kỹ thuật cao cấp. Năm 1943 - 1944, ông tích cực giúp phong trào Truyền bá Quốc ngữ chính thức hoạt động rầm rộ ở Sài Gòn và các tỉnh.

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông được mời ra Huế giữ chức Tổng trưởng, nhưng ông giữ khí tiết, tuyên bố: “Không làm tay sai cho ai nữa cả”.

Pháp tái chiếm Sài Gòn, ông vẫn bất hợp tác với giặc. Từ đó, nhà ông ở đường Chasseloup Laubat (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) là nơi hội họp, gặp gỡ của những trí thức tiến bộ, yêu nước. Năm 1947, ông cùng bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, giáo sư Đặng Minh Trứ vận động gần 300 trí thức ký tên vào bản kiến nghị đòi Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ Kháng chiến để chấm dứt chiến tranh. Cả ba vị cùng lên gặp Cao ủy Bollaert - đại diện thực dân Pháp và đã tranh cãi kịch liệt với Bollaert. Sau đó, bác sĩ Hưởng và giáo sư Trứ quyết định ra chiến khu, còn kỹ sư Lưu Văn Lang ở lại Sài Gòn với thái độ rõ ràng đứng về phía nhân dân, mặt đối mặt với quân xâm lược. Qua thế đứng của mình, ông ra sức tranh thủ một số nhân vật quan trọng từ Pháp sang nắm tình hình Việt Nam, trong đó có văn hào Georges Duhamel.

Năm 1949, ông là người ký tên đầu tiên vào bản kiến nghị thứ hai, với hàng ngàn chữ ký, đòi Chính phủ Pháp thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh để trao trả độc lập và tái lập hòa bình Việt Nam, làm cho thực dân Pháp và tay sai phải bối rối.

Ngày 09 tháng 01 năm 1950, tại Sài Gòn, nhân đám tang học trò Trần Văn Ơn, ông dẫn đầu đoàn biểu tình đông hàng trăm ngàn người, mặc dù năm ấy ông đã 70 tuổi.

Năm 1954, tuy đã già, ông Lưu Văn Lang vẫn nhận chức Chủ tịch danh dự Phong trào Hòa bình. Tháng 11 năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm bắt ông giam giữ, không lâu sau, vì uy tín lớn của ông, họ buộc phải thả ông ra.

Ông ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, công khai phổ biến các văn kiện của Mặt trận ngay giữa Sài Gòn.

Ông Lưu Văn Lang mất ngày 03 tháng 8 năm 1969, thọ 90 tuổi.

Tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp có trường Trung học cơ sở mang tên Lưu Văn Lang (bên cạnh trường Phổ thông Trung học Sa Đéc).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn