Anh hùng Lực lượng vũ trang

Lưu Viết Thoảng – người đào đường hầm vào lòng đồi A1

Lưu Viết Thoảng chỉ huy tổ công binh đào hầm bí mật vào đồi A1, đưa khối bộc phá gần 1.000 kg vào vị trí, góp phần mở đường cho đợt tiến công cuối cùng.

Bắc Ninh25/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồi A1 là cứ điểm quan trọng bậc nhất trong hệ thống phòng ngự phía đông của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Nằm án ngữ con đường vào trung tâm Mường Thanh, A1 có hệ thống hầm ngầm và lô cốt kiên cố, khiến nhiều đợt tiến công của quân ta gặp tổn thất lớn. Để phá vỡ điểm tựa này, một tổ công binh đã bí mật đào đường hầm vào lòng đồi, trong đó Tiểu đội trưởng Lưu Viết Thoảng là người trực tiếp tổ chức và bám trụ suốt những ngày gian khổ nhất.

Lưu Viết Thoảng sinh năm 1926, quê ở xã Cảnh Thụy, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Ông nhập ngũ tháng 11/1944 và liên tục tham gia phục vụ chiến đấu trong nhiều chiến dịch cho đến tháng 5/1954. Là chiến sĩ công binh, ông nổi bật bởi sự gan dạ và khả năng tự tìm cách giải quyết những nhiệm vụ kỹ thuật nguy hiểm.

Trong thời gian mở đường chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, Lưu Viết Thoảng được giao tháo bom để lấy thuốc nổ phá đá. Từ một chiến sĩ mới chuyển sang công binh, thiếu kinh nghiệm và dụng cụ, ông vừa học đồng đội vừa tự nghiên cứu cấu tạo từng loại bom nổ chậm. Có lần gặp loại bom lạ, ông yêu cầu mọi người đứng xa rồi một mình tiếp cận tháo gỡ, sau đó phổ biến kinh nghiệm cho cả tiểu đội. Những quả bom nguy hiểm nhờ vậy được biến thành nguồn thuốc nổ phục vụ mở đường.

Tháng 4/1954, kế hoạch đào một đường hầm từ trận địa quân ta tới dưới hầm ngầm của quân Pháp trên A1 được thông qua. Đội đặc biệt gồm 25 cán bộ, chiến sĩ do Nguyễn Phú Xuyên Khung chỉ huy phải làm việc ngay sát vị trí địch, trong tầm súng và lựu đạn. Tiểu đội trưởng Lưu Viết Thoảng lựa chọn một tổ khỏe nhất để mở cửa hầm.

Đất đồi A1 rắn đến mức trong đêm đầu tiên, tổ công binh chỉ khoét sâu được khoảng 90 cm. Quân Pháp liên tục bắn và ném lựu đạn xuống khu vực nghi ngờ; ba chiến sĩ bị thương, bản thân Lưu Viết Thoảng có lần bị sức ép làm ngất. Phải mất ba đêm, cửa hầm mới hoàn thành. Khi đường đào sâu khoảng 10 m, một khó khăn khác xuất hiện: không khí thiếu nghiêm trọng, đèn và đuốc đưa vào đều dễ tắt, trong khi đất đào ra phải được chuyển đi thật kín đáo để không lộ ý đồ.

Để giữ đúng hướng và độ dốc, Lưu Viết Thoảng dùng một nén hương đang cháy làm vật chuẩn, đồng thời buộc đèn pin vào cọc ở cửa hầm để vừa lấy hướng vừa chiếu sáng. Ông cùng đồng đội chẻ nứa đan thành quạt; một người đào, một người quạt, còn hai hoặc ba người nằm ngửa nối tiếp tại cửa hầm để đẩy không khí vào sâu bên trong.

Hầm chật đến mức người đào phải nằm nghiêng hoặc nằm ngửa mà cuốc từng nhát. Mỗi ca thường chỉ kéo dài khoảng 30 phút rồi phải bò ra ngoài vì ngột ngạt; riêng Lưu Viết Thoảng có thể ở lại đào hàng giờ. Đất được chuyển ra bằng những dụng cụ nhỏ, không để lại dấu vết trước mắt đối phương. Trên mặt đất, lực lượng phòng ngự quyết giữ bí mật cửa hầm dù phải hy sinh.

Khi đường hầm hoàn thành, các khối thuốc nổ 10 kg và 15 kg được ghép thành một khối bộc phá gần 1.000 kg rồi đưa vào vị trí. Ngày 6/5/1954, Nguyễn Văn Bạch, Lưu Viết Thoảng và Đại đội trưởng Nguyễn Phú Xuyên Khung được giao nhiệm vụ điểm hỏa. Đúng 20 giờ 30 phút, khối bộc phá phát nổ, đánh sập một phần hầm ngầm và lô cốt mẹ, phát tín hiệu cho đợt tiến công cuối cùng vào A1.

Rạng sáng 7/5, quân ta làm chủ hoàn toàn đồi A1; đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đầu hàng. Với thành tích phá bom, mở đường và chỉ huy đào hầm, Lưu Viết Thoảng được tặng Huân chương Quân công hạng Ba và ngày 7/5/1956 được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Câu chuyện của ông cho thấy chiến thắng còn được tạo nên bởi trí sáng tạo, sức chịu đựng và từng nhát cuốc âm thầm trong lòng đất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn